NGƯỜI MONG HẠNH PHÚC 01 Laurent Gounelle

FRANCENguyên tác: L’homme qui voulait être heureux. NGUYỄN TRẦN SÂM dịch từ nguyên bản tiếng Pháp.

MỘT

Tôi không muốn rời Bali mà không trở lại. Tôi không biết vì sao. Tôi không đau ốm; lúc nào tôi cũng thấy khỏe mạnh. Tôi đã học được cách trả công ở đây, và khi kỳ nghỉ của tôi gần kết thúc thì cái ví tiền của tôi đã gần như rỗng. Tôi thậm chí không dám bàn đến việc chuyển tiền qua ngân hàng. Những người thông thạo thì bảo tôi: “Anh muốn đưa thì cứ đưa, nhét vào cái hộp đặt trên giá ấy.” Vâng, điều đó đã làm tôi yên tâm, ngay cả khi thấy sợ cái ý tưởng để lại tấm phiếu thanh toán cho một người nghe nói đã từng chăm sóc thủ tướng Nhật.

Thật khó tìm được ngôi nhà lọt thỏm trong một làng nhỏ ở giữa đảo, cách Ubud mấy cây số. Tôi không hiểu vì sao ở đất nước này gần như không có tấm biển chỉ đường nào. Đọc một tấm thẻ chỉ có thể hiểu được khi người ta có những điểm tham chiếu, nếu không thì có dùng điện thoại di động cũng vô ích trong vùng không phủ sóng này. Chỉ còn lại một giải pháp khả dĩ: hỏi người qua đường. Rất may, tôi là người không bao giờ gây khó cho bản thân. Tôi cảm thấy đa số đàn ông có ấn tượng là họ bị mất tính đàn ông, nếu họ hạ mình đến mức đó. Họ thích im lặng và ra vẻ “Tôi biết rồi”, cho đến khi hoàn toàn mất hướng, và bà vợ phải nói: “Thì em đã bảo phải hỏi thăm mà lại.”

Ở Bali có một cái dở là mọi người đều nhã nhặn đến mức luôn nói “vâng”. Đúng thế. Nếu bạn nói với một cô gái “Cô thật duyên dáng”, cô ấy sẽ mỉm cười nhìn bạn và nói “vâng”. Và khi bạn hỏi đường, họ sẽ muốn giúp bạn đến mức không thể thú nhận là họ không giúp được. Thế là họ chỉ hướng cho bạn, mà chắc chắn là hú họa.

Tôi khá bực mình khi lại đứng trước cổng vườn.

Không hiểu vì sao tôi lại hình dung ra một ngôi nhà khá sang trọng, như thỉnh thoảng vẫn thấy ở Bali, với những hồ sen, dưới tán của những cây đại khoe những bông hoa trắng với mùi hương đậm đặc đến mức hơi quá. Thực tế thì khu nhà giống như một dãy lán trại, kiểu như những ngôi nhà nhỏ không có vách và nối liền với nhau. Trong khung cảnh khu vườn, chúng có vẻ thật đơn giản, trần trụi và có phần thảm hại.

Một thiếu phụ quấn xà rông ra đón tôi. Cô có nước da rám nắng, mái tóc đen búi trên đầu, cái mũi nhỏ cân đối, mắt không xếch, những nét luôn làm tôi ngạc nhiên khi đến vùng đặc Á châu này.

“Chào ông, ông cần gì ạ?” Cô ấy hỏi tôi để mở đầu cuộc gặp bằng một thứ tiếng Anh không thật chuẩn.

Chiều cao 1m90 và mái tóc vàng của tôi chắc làm cô ấy nghi ngờ về gốc gác phương Tây của tôi.

“Tôi đến gặp ông… ờ… thầy Samtyang.”

“Ông ấy đến bây giờ.” Thiếu phụ nói và biến mất sau rặng cây và dãy cột nhỏ đỡ các mái lán.

Tôi đứng lơ ngơ trơ trọi, chờ quý ngài hạ cố tiếp một du khách tầm thường như tôi. Sau khoảng 5 phút, khoảng thời gian đủ dài để tôi tự hỏi mình về việc có nên đến đây không, tôi thấy một người khoảng ngoài 70, có thể là ngoài 80, đi ra. Ý nghĩ đầu tiên xuất hiện trong tâm trí tôi là chắc chắn tôi sẽ cho ông ta 50 rupi nếu gặp ông ta đang ăn xin trên đường phố. Tôi có xu hướng chỉ cho người già: tôi nghĩ là nếu họ đi ăn xin ở tuổi đó thì vì họ không có lựa chọn nào khác. Người đang chậm chạp đi về phía tôi chắc chắn không rách rưới, nhưng trang phục của ông ta có vẻ sơ sài và cũ.

Tôi lấy làm ngượng mà thú nhận rằng tôi đã nghĩ ông ta không phải là người tôi tìm. Ông ta không thể là thầy thuốc bí truyền mà tiếng tăm đã vang xa vượt đại dương. Hoặc là ông ta vì thiếu hiểu biết đã chữa liều, và rồi ngài thủ tướng Nhật trả công ông ta thật hậu hĩnh. Có thể ông ta là thiên tài quảng cáo, chủ trương tìm khách hàng trong số những người phương Tây nhẹ dạ, thích đưa tin dường như ông lang này sống trong khổ hạnh, không quan tâm đến những quyền lợi vật chất, nhưng cũng nhận những sự trả công hậu hĩnh.

Ông ta chào hỏi tôi một cách suồng sã và mềm mỏng bằng một thứ tiếng Anh rất chuẩn. Ánh mắt tinh nhanh của ông thật tương phản với những nếp nhăn trên làn da rám nắng. Tai phải của ông hơi dị thường, dường như dái tai bị cắt mất một mẩu.

Ông ta mời tôi đi theo ông ta vào cái lán đầu tiên: một cái mái được đỡ bởi bốn cọc nhỏ, tựa vào một bức tường cũ kỹ, một cái giá treo dài suốt dọc bức tường, một chiếc rương bằng gỗ long não, và trên nền đất là một cái chiếu. Chiếc rương đang mở đựng đầy tài liệu, trong đó có những bức hình cơ thể người mà khi nhìn thì tôi thấy rất buồn cười vì nó khác xa với hiểu biết ngày nay về y học.

Tôi cởi giày trước khi bước vào lán, theo phong tục Bali.

Ông già hỏi tôi đau gì, câu hỏi làm tôi buộc phải tìm ra lý do có mặt ở đây. Chính xác là tôi tìm kiếm gì khi không đau ốm? Tôi sẽ làm mất thời gian của con người mà tôi bắt đầu cảm thấy là lương thiện, nếu không nói là hoàn thiện, mặc dù chưa có bằng chứng nào về sự tinh thông của ông ta. Liệu có phải tôi chỉ muốn người ta quan tâm đến tôi, nói với tôi về TÔI, và, biết đâu đấy, lại phát hiện ra có một phương cách để tôi tốt hơn lên? Và nếu như tôi tuân theo một kiểu linh cảm nào đó… Sau hết, người ta đã nói với tôi rằng đây là một con người phi thường, và tôi chỉ muốn được gặp ông ta.

“Tôi đến để kiểm tra sức khỏe.” Tôi thú nhận và đỏ mặt vì ý nghĩ là tôi không bao giờ đi kiểm tra sức khỏe định kỳ và yêu cầu của tôi đã thay đổi.

“Mời nằm kia.” Ông ta nói và chỉ vào chiếc chiếu mà không tỏ thái độ gì về yêu cầu phù phiếm của tôi.

 

HAI

Thế là bắt đầu cuộc tra tấn đầu tiên – và tôi hy vọng là cuối cùng – trong đời tôi. Mọi việc khởi đầu bình thường: tôi nằm ngửa, duỗi dài, thấy thoải mái và hơi kỳ khôi, để cho ông già sờ nắn mọi vùng trên cơ thể. Đầu tiên là đầu, rồi gáy. Rồi đến hai tay, đến từng đốt ngón tay. Tiếp theo là những vùng ở ngực, rồi đến bụng. Tôi cảm thấy tay ông già chuyển từ bụng tôi sang đùi, rồi đầu gối, bắp chân, gót chân, gan bàn chân. Ông ấy sờ nắn mọi thứ, nhưng không làm tôi khó chịu. 

Cuối cùng, ông ấy sờ đến các ngón chân.

 

BA

Tôi chưa từng biết rằng có thể làm người ta đau đớn đến thế chỉ bằng cách dùng hai ngón tay bóp ngón chân út bên trái. Tôi gào thét và quằn quại đau đớn đến tận cùng trên chiếc chiếu. Nếu nhìn từ xa, sẽ thấy như một người đi câu đang cố găm một con giòi dài 1m90 đang sống vào lưỡi câu. Tôi biết rằng tôi là một kẻ kém chịu đau, nhưng cơn đau mà tôi đang phải chịu đựng vượt xa tất cả những gì tôi đã từng phải chịu trước đó.

“Anh có bệnh.” Ông già nói.

Tầm phào! Tôi hổn hển nói “vâng” giữa những tiếng rên. Tôi thậm chí không còn sức để la nữa. Ông già có vẻ không quan tâm đến sự đau đớn của tôi; ông giữ vẻ bình thản khoan dung. Nét mặt ông thể hiện vẻ thân thiện trái ngược với hình phạt ông vừa bắt tôi phải chịu.

“Anh bị một thứ tồi tệ.” Ông già nói trong khi đưa ra lời chẩn đoán.

Đúng vào thời khắc đó, vâng, rất chính xác, tôi không còn biết nên khóc hay nên cười trong bối cảnh mà tôi rơi vào. Tôi cho rằng tôi đã làm cả hai việc cùng lúc. Trước đó, tôi chưa hề có những dự định như thế. Lẽ ra phải có một ngày trên bãi tắm, chuyện trò với những người câu cá và ngắm các thiếu phụ Bali duyên dáng.

“Cơn đau của anh vào đúng thời điểm này là triệu chứng của một loại bệnh khá phổ biến. Nếu tôi bóp vào đúng chỗ đó của bất kỳ ai khác thì người đó cũng không đau.” Ông quả quyết.

Cuối cùng thì ông ấy cũng nới lỏng bàn chân tôi, và tôi cảm thấy như mình là người hạnh phúc nhất đời.

“Anh làm nghề gì?”

“Tôi là giáo viên.”

Ông nhìn tôi một thoáng, rồi lùi lại, vẻ đăm chiêu như đang nghĩ ngợi điều gì. Tôi ngờ ngợ rằng mình đã nói điều gì không xứng đáng hoặc thậm chí đã làm điều gì tồi tệ. Ông lơ đãng nhìn về phía cây hoa giấy đầy hoa cách đó mấy bước. Có vẻ như ông đang chìm vào suy nghĩ. Tôi không biết nên làm gì. Đi chăng? Nhắc cho ông ta về sự có mặt của tôi?

Ông già cắt dòng suy nghĩ của tôi khi đi lại gần tôi. Ông ngồi hẳn xuống đất, nhìn thẳng vào mắt tôi và nói:

“Có điều gì không ổn đến với anh? Anh có sức khỏe rất tốt. Thế thì đó là cái gì? Việc làm? Chuyện yêu đương? Gia đình?”

Câu hỏi của ông rất rõ nghĩa, và cặp mắt ông nhìn thẳng vào tôi, làm tôi không lẩn tránh được, mặc dù ánh mắt ông rất hiền từ. Tôi thấy buộc phải trả lời, để lộ mình với một người mà trước đó một giờ tôi còn chưa gặp.

“Tôi chẳng biết nữa; tôi có thể hạnh phúc hơn, như tất cả mọi người.”

“Tôi không yêu cầu anh trả lời thay cho người khác mà là cho anh, ông bình thản nói.”

Ông ấy bắt đầu làm tôi khó chịu. Tôi chỉ làm những việc tôi muốn, và không quan tâm đến ông ta, tôi nghĩ thầm và cố nén tức giận.

“Tôi nói là tôi sẽ hạnh phúc hơn nếu có đôi.”

Tại sao tôi lại nói thế với ông ta? Tôi cảm thấy bực với chính mình. Quả là tôi không thể cưỡng lại được yêu cầu của một người khác. Thật tội nghiệp.

“Nếu vậy sao anh lại không có đôi?”

Thôi được. Tôi cần quyết định, mặc dù ở thế yếu: tôi sẽ chất vấn ông ta, sẽ chơi trò chơi này tới cùng.

Tôi trả lời:

“Tôi muốn, và cần phải làm đẹp lòng một người đàn bà.”

“Điều gì cản trở anh?”

“À, vì tôi quá gầy, tôi nói và đỏ mặt vì xấu hổ và bực bội.”

 

BỐN

Bằng giọng trầm lắng, ông già nói chậm rãi từng từ:

“Vấn đề của anh không phải ở cơ thể, mà ở cái đầu.”

“Không, không phải ở đầu; đây là yếu tố khách quan, là thực tế. Ông chỉ cần đưa tôi lên bàn cân, hoặc đo ngực tôi, hay đo vòng bắp cơ, khi đó chính ông sẽ thấy cả cân và thước dây đều không giải quyết được vấn đề. Tôi không thể làm các số đo thay đổi bằng tâm trí méo mó và hỗn loạn của tôi.”

“Vấn đề không phải ở đó.” Ông già từ tốn trả lời với vẻ thật bình thản.

“Nói thì dễ…”

“Vấn đề của anh không phải là cơ thể, mà là cách anh quan niệm về sự cảm nhận của phụ nữ. Thực ra, thành công trong quan hệ với người khác giới chỉ liên quan rất ít đến vẻ bên ngoài.”

“Nếu tôi nói điều này với cô hàng xóm nặng 120 kg và có một cái mũi như củ khoai thì cô ấy sẽ đặt tôi lên cái mô hình triple Big Mac mà cô ấy luôn xách theo, và ép cho đến khi tôi bị bẹp dí.”

“Thế ra anh chưa bao giờ thấy những người mà ngoại hình khác quá xa so với những tiêu chuẩn về vẻ đẹp lại kết đôi với người có ngoại hình đẹp?”

“Vâng, đúng thế.”

“Đa số đàn ông gặp vấn đề như của anh đều có ngoại hình bình thường, với vài nhược điểm nhỏ mà họ quá chú ý. Một cặp môi quá mỏng, một đôi tai quá dài, một bộ mông bự, một cái cằm có nếp, một cái mũi quá to hoặc ngắn. Có những người tự thấy mình quá nhỏ hoặc quá to, quá béo hoặc quá gầy, và họ tự hạ thấp mình. Khi họ gặp người có thể yêu họ, họ không thoát khỏi nỗi ám ảnh vì nhược điểm của mình. Họ tin rằng chính vì cái đó mà họ không thể làm đẹp lòng người kia. Và anh có biết không?”

“Biết cái gì cơ?”

“Họ có lý. Khi họ tự thấy mình khó coi thì người khác cũng thấy họ khó coi. Tôi tin chắc rằng đàn bà thấy anh quá gầy.”

“Ô, thế đấy…”

“Người khác nhìn chúng ta theo cách chúng ta nhìn chính mình. Nữ diễn viên yêu thích của anh là ai?”

“Nicole Kidman.”

“Anh thấy cô ấy thế nào?”

“Một diễn viên xuất sắc, một trong những người tuyệt vời nhất của thế hệ đó. Tôi thực sự ngưỡng mộ.”

“Không, tôi muốn nói ngoại hình.”

“Quá đẹp, kiều diễm. Đó là một trái bom.”

“Anh xem “Eyes Wide Shut” của Stanley Kubrick chưa?”

“Ông vẫn xem phim Mỹ à? Ông có máy thu vệ tinh trong lán à?”

“Nếu trí nhớ của tôi còn tốt thì có một cảnh mà Nicole Kidman hoàn toàn khỏa thân, ở cùng Tom Cruise.”

“Ông nhớ đúng đấy.”

“Hãy đến videoclub de Kuta, và hãy tự chiếu bộ phim “Eyes Wide Shut”. Họ có buồng riêng cho những người không có máy chiếu. Khi đến cảnh đó, hãy cho phim dừng lại và quan sát thật kỹ.”

“Cái đó thì không khó đối với tôi.”

“Hãy quên trong ít phút rằng đó là Nicole Kidman đang diễn, coi đó như người lạ và nhìn thật kỹ cơ thể cô ấy.”

“Vâng.”

“Anh đã nghĩ trước rằng cô ấy đáng yêu, có cơ thể đẹp, nhưng dù sao cũng không hoàn thiện. Bộ mông cô ấy đẹp, nhưng giá mà nó tròn hơn, hoàn hảo hơn. Ngực cô ấy không xấu, nhưng giá mà nó đầy đặn hơn, nổi hơn, cao hơn một chút, vểnh lên một chút. Anh sẽ thấy rằng nét mặt cô ấy cân đối, tinh tế, nhưng vẫn còn có thể đẹp hơn nữa.”

“Ông muốn nói đến ai?”

“Có hàng vạn phụ nữ đẹp ngang với Nicole Kidman. Anh thấy họ hàng ngày trên đường phố mà thậm chí không nhận ra. Sức mạnh thực sự của cô ấy ở chỗ khác.”

“Thế à?”

“Nicole Kidman thực sự tin rằng mình vượt trội. Chắc chắn cô ấy tin rằng mọi người đàn ông đều muốn cô ấy, và mọi người đàn bà đều ngưỡng mộ hoặc ghen tị với cô ấy. Cô ấy tự coi mình là một trong những phụ nữ đẹp nhất trên thế giới. Cô ấy tin rằng mọi người khác đều thấy như vậy.”

“Năm 2006, tạp chí Anh “Eve” đã bầu chọn cô ấy là một trong 5 phụ nữ đẹp nhất thế giới.”

“Đấy.”

“Và ông giải thích cái đó thế nào?”

“Mọi người có xu hướng nhìn bạn như chính bạn nhìn mình.”

“Vâng.”

“Anh hãy làm một thí nghiệm. Trong vài phút, anh hãy hình dung ra một thứ gì. Không quan trọng lắm là nó có thật hay không. Chỉ cần anh coi đó là thực. Anh sẵn sàng chưa?”

“Rồi, ngay bây giờ.”

“Phải, ngay bây giờ. Anh có thể nhắm mắt lại, như thế sẽ dễ hơn.”

“OK, tôi sẵn sàng.”

“Hãy hình dung rằng anh thấy mình rất đẹp trai. Anh tin rằng anh có sức thu hút ghê gớm đối với phụ nữ. Anh đi ra bãi biển, bãi Kuta, giữa đám nữ du khách Australia. Anh cảm thấy thế nào?”

“Rất thích. Cảm giác hạnh phúc thực sự.”

“Hãy tả cho tôi nghe về điệu đi, dáng đứng của anh. Tôi nhắc lại rằng anh thấy mình rất đẹp.”

“Tôi có dáng đi… nói thế nào nhỉ…? Rất tự tin, rất thẳng.”

“Hãy tả gương mặt anh.”

“Tôi giữ thẳng đầu, nhìn về phía trước, môi hơi nở nụ cười tự nhiên. Tôi bình thản và tự tin.”

“Tốt. Bây giờ, hãy hình dung phụ nữ thấy anh thế nào.”

“Phải, rất rõ, tôi thấy… nói sao nhỉ…? Một sự thu hút…”

“Họ nghĩ gì về bộ ngực hay cơ bắp của anh?”

“Ờ… Không hẳn là họ chú ý đến những thứ đó.”

“Bây giờ anh có thể mở mắt ra. Cái làm đàn bà thích chính là cái phát tiết từ nhân cách của anh. Đó là tất cả. Và cái đó là hệ quả trực tiếp của hình ảnh mà anh có về chính mình. Khi người ta nghĩ mình có gì, bất kể đó là tốt hay xấu, người ta sẽ thể hiện mình như có cái đó. Người đó truyền niềm tin sang người khác, và đó chính là cách tạo ra ý thức, nó trở thành một thực tế đối với người khác và đối với chính mình.”

“Có lẽ vậy. Tuy nhiên, cái đó đối với tôi còn khá mơ hồ.”

“Nó sẽ ngày càng rõ ràng hơn. Tôi muốn anh tự phát hiện ra trong nhiều lần thử nghiệm, rằng hầu như mọi thứ anh thấy đều có nguồn gốc là những thứ anh đã hình dung ra.”

Tôi bắt đầu từ việc tự hỏi tôi đã đặt chân đến đâu. Khi đó, tôi chưa hề biết rằng cuộc nói chuyện giữa chúng tôi và những thay đổi tiếp theo sẽ xoay chuyển toàn bộ cuộc đời tôi.

“Hãy tưởng tượng, ông già nói tiếp, rằng anh tin chắc là mình kém hấp dẫn, và khi nói chuyện thì luôn làm người khác khó chịu.”

“Tôi thích trò vừa rồi hơn…”

“Cái này mất không quá hai phút thôi. Hãy tưởng tượng rằng đối với anh có một điều rất rõ ràng là mọi người không thích gần anh. Hãy thực sự thử chịu đựng những cái mà niềm tin đó gây ra. Được chưa?”

“Cái này mất không quá hai phút thôi. Hãy tưởng tượng rằng đối với anh có một điều rất rõ ràng là mọi người không thích gần anh. Hãy thực sự thử chịu đựng những cái mà niềm tin đó gây ra. Được chưa?”

“Rồi, thật buồn…”

“Hãy ở trong trạng thái đó, giữ nó trong tâm trí, và bây giờ hình dung rằng anh đang ăn trưa cùng đồng nghiệp hoặc bạn bè. Hãy tả cho tôi nghe về bữa ăn.”

“Đồng nghiệp của tôi nói rất nhiều, họ kể về kỳ nghỉ, còn tôi thì không nói gì đặc biệt.”

“Hãy ở trong trạng thái đó, nhưng bây giờ thì anh hãy thử kể một truyện cười mà anh biết được trong kỳ nghỉ của anh.”

“Đợi một chút. Tôi đang hình dung ra một cảnh… Đúng là không gây ấn tượng. Họ không muốn nghe tôi kể.”

“Cái đó là thường tình: nếu anh tin rằng anh kém hấp dẫn thì anh sẽ thể hiện theo cách làm cho câu chuyện của anh kém thú vị.”

“Vâng…”

“Ví dụ, khi anh sợ một cách vô ý thức rằng sẽ làm đồng nghiệp khó chịu, anh sẽ khó mà nói năng lưu loát được, anh sẽ kể hời hợt, để khỏi làm họ mất thời gian hay làm họ chán ngấy. Khi đó thì anh không thể gây được ấn tượng, và câu chuyện mất đi sự hấp dẫn. Anh sẽ buồn và tự nhủ: “Mình là kẻ không biết kể chuyện.” Kết quả là anh càng kém thêm, và chắc chắn là sẽ có một đồng nghiệp ngắt lời anh và chuyển sang nói chuyện khác. Cuối bữa ăn thì không ai còn nhớ anh đã kể gì nữa.”

“Cái đó…”

“Khi người ta tin vào thứ gì, cái đó trở thành hiện thực.”

Tôi khá lo về cuộc thí nghiệm.

“Thôi được, cho là vậy, nhưng vì sao lại có người tin vào những chuyện như thế?”

“Đây chắc chắn không phải vấn đề của anh, nhưng là vấn đề của một số người. Mỗi người đều tin rằng họ là thế này thế nọ. Lấy một ví dụ. Bây giờ hãy hình dung ngược lại: anh tin rằng anh lôi cuốn được mọi người, gây được ấn tượng đối với họ khi anh nói. Khi anh lên tiếng trong bữa ăn với các đồng nghiệp, anh tin rằng câu truyện cười của anh sẽ gây ấn tượng, anh sẽ làm cho họ phải cười, phải thấy bất ngờ hay ít ra phải chú ý. Mang theo niềm tin đó, hãy hình dung mình bắt đầu như thế nào: đoán trước được hiệu quả, anh sẽ có thời gian để phát triển chủ đề, điều chỉnh giọng nói. Anh có thể tạo ra những khoảng lặng, làm người ta phải cố đoán diễn biến. Anh biết không? Họ sẽ dán mắt vào miệng anh.”

“Đồng ý, tôi hiểu là cái mà người ta tin chắc sẽ trở thành hiện thực, nhưng đồng thời tôi có một câu hỏi?”

“Được?”

“Việc một người làm cho người khác tin được vào điều mình tin xảy ra như thế nào?”

“Có nhiều cách giải thích khả dĩ. Đầu tiên là mọi người chú ý đến chủ đề của ta. Nếu vì lý do gì đó mà họ chăm chú nhìn vào mắt ta thì ta có thể tin vào những điều họ nói về ta.”

“Ví dụ như cha mẹ ta?”

“Việc đó nói chung bắt đầu từ cha mẹ hay những người nuôi dạy chúng ta. Một đứa trẻ nhỏ hoàn toàn tin vào cha mẹ nó, ít nhất là đến một độ tuổi nào đó, nó có xu hướng tiếp nhận mọi thứ mà cha mẹ nói với nó. Những cái đó khắc sâu vào tâm trí nó. Nó thu nhận tất cả.”

“Ông có thể nói cụ thể hơn không?”

“Nếu cha mẹ tin rằng con của họ đẹp và thông minh, và họ liên tục nói thế với nó, thì có nhiều khả năng đứa trẻ sẽ thấy như vậy, và sẽ rất tự tin. Tuy nhiên điều đó không dẫn đến những hệ quả tốt. Nó sẽ có tính kiêu ngạo…”

“Như vậy là vì cha mẹ mà tôi không tin tưởng vào ngoại hình của tôi?”

“Không, không hẳn. Nếu anh để ý thì sẽ thấy có nhiều nguyên nhân cho việc người ta tin vào bản thân. Nói về ảnh hưởng của người khác thì không phải chỉ có cha mẹ. Ví dụ, những nhận xét của thầy cô đôi khi cũng có tác động lớn, cả tích cực lẫn tiêu cực.”

“Điều này làm tôi nhớ lại một việc: tôi đã học rất giỏi toán cho đến lớp 5. Điểm trung bình của tôi thường vào khoảng từ 18 đến 20. Đến lớp 4, tôi học một cô giáo mà hôm nào cũng nói bọn tôi toàn những đứa dốt đặc. Tôi nhớ là cô ấy luôn quát tháo, và gân cổ cô ấy nổi lên khi cô ấy chửi bới. Cuối năm, tôi chỉ được điểm trung bình 4.”

“Có lẽ anh đã tin vào điều cô ấy nói.”

“Có thể. Nhưng, nói đúng ra thì bọn bạn tôi không bị điểm 4 giống tôi…”

“Chắc chắn là vì họ không để ý lắm đến đánh giá của cô giáo.”

“Tôi không biết.”

“Vào những năm 60, các nhà nghiên cứu của một trường đại học ở Mỹ đã làm một thí nghiệm. Họ tập hợp một nhóm học trò cùng lứa tuổi và có cùng kết quả kiểm tra chỉ số IQ. Như vậy, theo khảo sát thì những đứa trẻ đó thông minh như nhau. Sau đó họ chia nhóm thành hai. Họ giao nhóm thứ nhất cho một giáo viên và dặn: “Hãy dạy các em này theo chương trình bình thường, nhưng xin chú ý rằng chúng là những học trò khá.” Còn người thầy được giao nhóm thứ hai thì thấy người ta dặn: “Hãy dạy các em này theo chương trình bình thường, nhưng xin chú ý rằng chúng là những học trò yếu.” Cuối năm, các nhà nghiên cứu lại lấy chỉ số IQ của học trò cả hai nhóm. Học trò nhóm thứ nhất có chỉ số trung bình cao hơn hẳn những đứa ở nhóm thứ hai.”

“Điên.”

“Cái đó đúng là rất ấn tượng.”

“Thật khó tin. Chỉ cần làm cho ông thầy tin rằng học trò của ông ta giỏi thì ông ta sẽ dạy cho chúng giỏi được. Nếu ông ấy tin rằng chúng là những con thú thì sẽ đào tạo chúng thành thú?”

“Đó là thí nghiệm khoa học.”

“Thế thì những người làm thí nghiệm đó với trẻ em là những người bệnh hoạn.”

“Đúng là điều này gây tranh cãi.”

“Nhưng tại sao điều đó lại như vậy? Tôi muốn nói tại sao làm cho ông ấy tin rằng học trò của ông ấy thông minh thì ông ấy sẽ dạy được chúng thành thông minh?”

“Có hai cách giải thích khả dĩ. Trước hết, khi anh tiếp xúc với người ngu thì anh nói năng thế nào?”

“Bằng những từ ngữ thực sự đơn giản, nói những câu rất ngắn, đưa ra những ý tưởng đơn giản để chúng hiểu được.”

“Thế. Và khi một người nói chuyện với những đứa trẻ mà chưa được khích thích nhiều để phát triển thì chúng càng trì trệ. Đó là cách giải thích thứ nhất. Còn cách khác, ghê gớm hơn.”

“Sao?”

“Nếu anh buộc phải quan tâm đến một đứa trẻ mà anh coi là kém cỏi, toàn bộ trong anh sẽ gieo vào đứa trẻ cảm giác rằng nó kém cỏi: không phải chỉ có những từ ngữ anh dùng để nói với nó, mà còn cả cách nói, điệu bộ, ánh mắt. Anh làm nó chán, hoặc ngược lại, gây khó chịu, và điều đó không khuyến khích nó: nó sẽ cảm thấy ngu đần khi ở bên anh. Và nếu anh là người có ảnh hưởng với nó, vị thế của anh, tuổi tác và vai trò của anh là quan trọng trong mắt nó, thì sẽ có nhiều khả năng nó sẽ không gạt bỏ được cảm giác đó. Nó sẽ bắt đầu nghĩ rằng nó dốt nát. Tiếp theo thì anh tự hiểu.”

“Thật dễ sợ.”

“Cái đó đúng là đáng sợ.”

Tôi thực sự bối rối vì những điều tôi vừa được nghe. Tất cả những ý tưởng đó như treo lơ lửng trong không khí. Chúng tôi im lặng một hồi. Một làn gió nhẹ đưa đến hương thơm tinh tế từ đám cây nhiệt đới đang nghiêng đi gần cái lán. Trong góc lán, một con tắc kè cất tiếng kêu chét chét.

“Có một điều làm tôi ngạc nhiên.”

“Sao?”

“Tôi không muốn làm ông phật ý, nhưng làm thế nào mà ông có được loại thông tin này, về những thí nghiệm ở Mỹ ấy?”

“Anh sẽ phải chấp nhận rằng tôi có thể làm những điều bí ẩn.”

Tôi không cố nài, nhưng tôi rất muốn biết. Tôi không thấy có khả năng kết nối Internet từ trong cái lán này. Tôi thậm chí không tin rằng cái làng này có điện thoại. Và tôi tuyệt đối không hình dung ra rằng ông lang này có thể liên lạc với những hội thảo khoa học. Tôi dễ hình dung ra hơn rằng ông ấy ngồi thiền hàng giờ, trong tư thế tòa sen, dưới bóng cây vẹt…

“Ông nói còn những nguyên nhân khác của việc người ta tự tin vào mình?”

“Đúng, có những điều mà người ta có thể rút ra không phải từ những thí nghiệm thực tế của chúng ta.”

“Tôi muốn có ví dụ.”

“Được, một ví dụ hơi cường điệu. Để dễ hình dung: hãy tưởng tượng một đứa bé mà bố mẹ của nó ít để ý đến việc nó làm. Nó khóc? Bố mẹ không nhúc nhích. Nó la? Họ làm thinh. Nó cười? Không phản ứng. Có thể đoán rằng nó sẽ lớn lên với cảm giác rằng nó không có ảnh hưởng gì tới mọi người chung quanh, không nhận được gì từ người khác. Ở tuổi nó, nó sẽ không nói ra điều ấy một cách rạch ròi. Đó thực ra là một cảm giác, một sự chịu đựng, một thứ gì đó tự len vào đầu nó. Để đơn giản hóa quá trình này, ta sẽ cho rằng nó sẽ không trải qua những trải nghiệm của người khác, mà sẽ có cảm giác ngược lại, khi đó ta có thể hình dung rằng khi nó lớn lên, nó sẽ tin vào định mệnh, nó sẽ không bao giờ đến với người khác để nhận cái mà nó muốn, không tìm cách làm mọi thứ thay đổi. Nếu một ngày nào đó một đứa bạn thấy nó ở trong tình trạng vô vọng, ví dụ khi đi tìm việc, đứa bạn đó sẽ cho rằng đó là do nó thụ động. Đứa bạn sẽ cố thuyết phục nó hành động, đi gõ các cửa, tìm cách kiểm soát tình hình, liên hệ với mọi người. Đứa bạn đó có lẽ sẽ phê phán nó gay gắt, rằng thái độ đó chẳng qua là kết quả của việc nó quá tin rằng nó không thể tác động đến những người chung quanh và không thể nhận được gì từ họ. Thậm chí nó không bao giờ có ý tin như vậy. Đối với nó, mọi việc là như vậy, đó là thực tế, cái thực tế của nó.”

“Hãy tin tôi: không thể có những bậc cha mẹ như vậy.”

“Đây chỉ là một ví dụ. Với lại cũng có thể hình dung ngược lại: những bậc cha mẹ luôn để ý đến mọi biểu hiện dù là nhỏ nhất của đứa con. Hễ nó khóc – họ liền chạy tới; nó mỉm cười – họ cổ vũ; nó cười – họ mê mẩn. Đứa trẻ chắc chắn sẽ có cảm giác ngày càng tăng rằng nó có tác động tới mọi người, và, nói thật ngắn gọn, thì có thể dự đoán rằng đến tuổi trưởng thành nó sẽ hoạt động tích cực, thậm chí có sức thu hút lớn, luôn tin vào ảnh hưởng của mình đối với mọi người, và khi muốn điều gì thì không ngần ngại tìm đến mọi người để được nhận. Nhưng nó sẽ không thật sự có ý thức về niềm tin đó. Đối với nó, việc nó có ảnh hưởng tới mọi người đơn giản là một thực tế. Thế đấy. Nó không biết rằng nguồn gốc của việc niềm tin được xác lập trong tâm trí là những điều nó thấy khi còn là đứa trẻ.

Người phụ nữ đã đón tôi lúc đó bước vào lán mời chúng tôi dùng trà và kẹo, nếu có thể gọi cái thứ bột nhão trộn đường nhơn nhớt đó như vậy, một thứ phải ăn bằng ngón tay, theo đúng truyền thống Bali. Một câu châm ngôn Bali nói rằng ăn bằng thìa bát giống như làm tình qua một người trung gian. Và người ta ăn bằng cách bỏ thức ăn vào lòng một bàn tay rồi dùng ngón tay cái đẩy vào miệng. Việc này đòi hỏi phải tập ít nhiều, nếu không muốn rơi vào cảnh giống như một đứa trẻ không có yếm dãi.

“Như vậy là việc ta tin vào một điều gì đó xuất phát từ việc người khác nói với ta hoặc ta rút ra từ một số trải nghiệm của chính ta, phải không?”

“Đúng thế.”

“Và chỉ khi ta còn bé?”

“Không. Thường thì việc hình thành hầu hết các định kiến xảy ra khi ta còn nhỏ, nhưng chúng cũng có thể được phát triển sau đó, kể cả khi ta đã có tuổi. Nhưng trong trường hợp này chúng phải là hệ quả của những trải nghiệm cực mạnh trong lĩnh vực cảm xúc.”

“Ví dụ?”

“Hãy hình dung lần đầu anh lên tiếng trước đám đông và anh bị thất bại thảm hại. Anh ấp úng, cố tìm lời, giọng anh nghẹn lại trong cổ họng, và miệng anh khô khốc như khi anh nhịn khát ba ngày liền trong sa mạc. Trong gian phòng, người ta có thể nghe được cả tiếng ruồi bay. Anh thấy rõ mọi người tỏ ra thương hại anh. Một số người mỉm cười chế giễu. Anh sẽ bỏ cả việc làm ăn và thu nhập cả năm mà anh sắp được nhận để đi nơi khác sống, miễn không còn ở đó. Mỗi khi nhớ lại chuyện đó, anh lại thấy xấu hổ. Trong trường hợp đó, anh sẽ tin rằng anh không có khả năng nói trước đám đông. Thực ra thì anh chỉ bị vấp một lần, vào hôm đó, trước đám đông đó, khi nói về đề tài đó. Nhưng tâm trí anh đã tổng quát hóa trải nghệm này và rút ra một kết luận khó thay đổi.”

Tôi đã ngừng ăn, và ngón tay dính đầy kẹo. Tôi lưỡng lự, không biết nên mút tay hay chùi xuống chiếu. Vì không dám quyết, tôi đành để tay lơ lửng. Có lẽ tôi đang được dạy để tin rằng tôi không thể ăn theo kiểu Bali.

“Ngày mai khi anh đến, chúng ta sẽ tìm xem những định kiến nào đã ngăn cản anh có hạnh phúc, ông già nói với tôi một cách nhã nhặn.”

“Tôi không chắc mai có quay lại được không.”

“Đừng cố làm tôi tin rằng vấn đề của anh chỉ là ở ngoại hình. Chắc chắn anh có những lý do nghiêm trọng hơn, và chúng ta sẽ cùng tiếp cận chúng.”

“Ông cương thật.”

“Với người khao khát được nghe thì không cần nói rằng tôi đang giúp họ tiến bộ, ông già mỉm cười nói.”

“Ông biết đấy, tôi nghĩ rằng ông là một thầy lang và chỉ quan tâm đến chữa bệnh và điều trị những đau đớn về thể xác.”

“Ở phương Tây, các vị có thói quen tách biệt thể xác và linh hồn. Ở đây, chúng tôi cho rằng hai cái đó liên quan mật thiết và tạo thành một tổng thể. Chúng ta chắc sẽ có dịp nói lại về điều này.”

“Tôi xin hỏi đúng một câu nữa. Tôi thấy dễ chịu hơn khi những chuyện này được sáng tỏ, ngay cả khi tôi không muốn nói đến. Tôi phải trả ông bao nhiêu vì sự giúp đỡ và vì thời gian mà ông dành cho tôi?”

Ông ta nhìn tôi chăm chú, rồi nói:

“Tôi biết rằng nghề của anh là truyền đạt thông tin cho người khác. Tôi chỉ cần anh nhớ không nói với ai về những thứ anh sẽ phát hiện ra.”

“Tôi xin hứa.”

Trước khi đi khỏi, tôi vẫn nhét được một tấm phiếu vào chiếc hộp nhỏ trên giá.

“Cái này để trả công ông đã nắn ngón chân tôi.”

 

NĂM

Con đường trở về Ubud thật đẹp. Tôi đã không nhận ra điều đó khi đi, vì còn lo tìm đường. Nó uốn lượn quanh co, cắt ngang qua những cánh đồng được bao quanh bởi những đám chuối hoang mà đôi chỗ có dòng suối chảy qua. Thời tiết ở cái vùng trũng giữa đảo này liên tục chuyển từ nắng sang mưa, một kiểu mưa khô, kích thích các mùi hương phát tán trong không gian. Kiểu khí hậu như vậy rất thuận lợi cho sự phát triển của thực vật nhiệt đới.

Khi vòng theo một khúc ngoặt, tôi thấy ba thanh niên Bali trên bờ ruộng, cách mép đường mấy thước. Họ có tầm tuổi từ hai mươi đến ba mươi, người thon và… hoàn toàn khỏa thân. Tôi hoàn toàn bất ngờ vì sự xuất hiện của họ. Tôi không hề có khái niệm về việc người dân Bali không e thẹn gì. Những người này đến đây để tắm sau buổi làm trên đồng chăng? Họ đi bên nhau rất tự nhiên. Cái nhìn của chúng tôi chạm nhau khi tôi đi ngang qua chỗ họ. Tôi không thể lý giải được về vẻ mặt kỳ cục của họ. Họ bối rối vì gặp tôi trên con đường vắng này chăng? Hay họ nhận ra sự kinh ngạc của tôi khi thấy họ trần truồng?

Tôi tiếp tục đi, và khi đến gần Ubud thì tôi đi ngang qua mấy làng nhỏ. Nhà cửa ở đây để lộ sự nghèo khó, nhưng đường phố rất quang đãng, sạch sẽ và đầy hoa. Trước cửa mỗi nhà đều bày đồ cúng gồm hoa và đồ ăn đặt trên những mảnh lá chuối đan vào nhau. Những đồ cúng đó được thay vài lần trong ngày.

Người Bali sống trong sự linh thiêng. Tôn giáo của họ không quy định những nghi lễ khuôn mẫu vào những giờ nhất định hay trong vài ngày cố định trong tuần. Không. Họ sống trong sự giao hòa trực tiếp với thần linh. Họ dường như chìm trong đức tin, sống với đức tin thường trực. Luôn bình thản, mềm mỏng, tươi cười, họ chắc chắn giống như những người dân Maurice, dân tộc đáng yêu nhất thế giới. Với sự bình thản thường xuyên, có cảm giác là không có gì có thể làm họ lo lắng. Họ tiếp mọi người đến nhà theo cách niềm nở như nhau.

Đối với mọi khách thăm viếng, Bali gợi ra cảnh thiên đường, và họ sẽ rất ngạc nhiên khi biết rằng từ này không có trong tiếng Bali. Thiên đường là một cái gì đó rất tự nhiên trong con người Bali, nên họ không có từ để diễn tả nó, giống như cá không cần có từ “nước” để nói về môi trường chung quanh.

Tôi nhớ lại cuộc gặp với ông lang, và tôi cảm thấy vẫn còn rất ấn tượng về cuộc trao đổi với ông ấy. Ông ấy có một ảnh hưởng đặc biệt; một dòng năng lượng tỏa ra từ con người ông ấy. Tôi khá phấn khích về cái mà ông ấy làm cho tôi nhận ra, mặc dù các lý giải của ông đôi khi không thật thuyết phục. Và tôi chưa bao giờ hình dung ra rằng có một ngày tôi lại ở đầu bên kia thế giới, nghe một vị hiền triết Bali bình luận về ngực và mông của Nicole Kidman.

Rời Ubud, tôi rẽ sang phía đông để về chỗ tôi ở. Tôi đã có một ngày đầy ấn tượng, và tôi cảm thấy cần ở một mình để gạn lọc những gì tôi vừa được biết. Tôi cần ít nhất một giờ để đi tới ngôi làng của những người câu cá trên bờ phía đông, ở đó tôi đã thuê một căn nhà ở rìa một bãi cát đẹp màu xám. Thật may là du khách thường thích bãi cát trắng ở bờ nam nên rất hiếm khi tôi đụng họ trên bãi “của tôi”. Chỉ có một cặp người Hà Lan là chọn một chỗ ở khá biệt lập. Họ không thuộc loại khó chịu, và tôi ít khi gặp họ. Căn nhà của tôi thuộc quyền sở hữu của một gia đình sống ở xa đó. Tôi đã thuê nó trước đó một tháng với giá chấp nhận được đối với tôi mà cũng rất hời đối với họ. Tôi thích những tình huống mà mọi người đều được lợi. Bãi tắm vắng khách suốt buổi sáng, đến chiều thì có vài đứa trẻ trong làng đến chơi. Chỉ những người đi câu hay đi ngang qua đó; đôi khi tôi nghe tiếng họ chèo thuyền độc mộc ra biển vào khoảng 5 giờ sáng. Một lần tôi đã đi cùng họ, mặc dù, do không nói được tiếng Bali, tôi đã rất khó làm cho họ hiểu và đồng ý cho đi cùng.

Đó là một trong những kỷ niệm đẹp nhất của tôi ở Bali. Chúng tôi xuất phát trước bình minh, và tôi đã rất lo lắng khi đi trên chiếc thuyền độc mộc chao đảo, mép sát mặt nước, hầu như không nhìn thấy gì trong đêm không trăng. Nhưng những người đi câu biết việc của họ, và tôi ngày hôm đó đã được thử thách cái gọi là lòng tin, một lòng tin mù quáng. Ngoài tiếng nước vỗ ì oạp và làn gió mát mơn trớn da mặt tôi, tôi không còn cảm nhận được gì khác. Khoảng 45 phút sau, tôi thấy mặt trời đang lên chầm chậm phía chân trời; nó giống như một cái máy chiếu đang rọi xuống mặt đất, chỉ trong một thoáng đã cho thấy một cảnh tượng hùng vĩ, bao la và kỳ diệu. Tôi chợt phát hiện ra sự mênh mông của biển, sự vô hạn của bầu trời và sự nhỏ bé của chiếc thuyền độc mộc nhỏ bé như que diêm đang được giữ nổi bởi một trò ma thuật trên mặt đại dương. Tôi cũng nhận ra nụ cười của những người đi câu, và đột nhiên tôi cảm thấy mình thực sự hạnh phúc mà không hiểu vì sao.

Trên đường về, chúng tôi thấy mấy con cá heo bơi đến gần thuyền, và tôi thực sự muốn được bơi bên cạnh chúng, do phản ứng ngu xuẩn của một người phương Tây đã đi xem quá nhiều những vườn thú. Những người Bali đã ngăn tôi lại, cố làm cho tôi hiểu rằng khi cá heo bơi trên mặt nước thì ở dưới sâu có thể có những con cá mập bơi theo để cùng săn đuổi đám cá mồi. Lý do đủ để tôi phải bỏ ý định, và tôi bằng lòng với việc chiêm ngưỡng vẻ đẹp của thiên nhiên, một vẻ đẹp không liên quan đến sự vận động, đến mục đích và sự sống.

Trên đường, tôi dừng lại ở một quán ăn nhỏ để dùng món nasigoreng, món ăn đặc trưng với nguyên liệu chính là gạo, như mọi món ăn của Bali. Đến cuối tuần thứ tư thì cứ nhìn thấy gạo là tôi mất hết khẩu vị. Tôi về đến căn nhà của tôi khi màn đêm buông xuống, thời điểm lý tưởng để đi dạo trên bãi biển mà không phải chạm với một sinh linh nào. Tôi tháo giày ra và đi luôn. Như đã đoán trước, bãi tắm vắng người, và tôi đi dạo khá lâu gần mép nước, quần xắn cao.

Vừa đi được vài phút, tâm trí phiêu lãng của tôi đã quay lại cuộc gặp với ông lang, và tôi nhớ lại mọi thứ đã phát hiện ra. Như vậy là chúng ta hình thành định kiến về bản thân do sự ảnh hưởng của những người chung quanh hoặc do những kết luận mà ra rút ra từ cuộc sống của mình. Tôi muốn chấp nhận điều đó, nhưng những định kiến này có thể vươn tới đâu? Chúng ta đã thấy người ta có thể tốt hoặc xấu, thông minh hoặc ngu đần, hấp dẫn hoặc tẻ nhạt. Người ta có thể tin vào khả năng gây ảnh hưởng của mình hoặc, ngược lại, tin rằng mình không có khả năng nhận bất kỳ điều gì từ người khác. Người ta còn có thể phát triển định kiến trong những lĩnh vực nào nữa? Tôi hiểu rằng người ta còn có thể tin vào một số thứ khác, và niềm tin này có thể ảnh hưởng đến cuộc sống của ta. Nhưng đến đâu? Tôi tự hỏi: niềm tin của chính tôi đã ảnh hưởng ra sao đến cuộc đời tôi, và, cùng với những cuộc gặp gỡ tình cờ và những trải nghiệm của tôi, tôi có thể tin vào những điều khác mà sau này cho tôi một hướng đi khác hẳn trong cuộc đời đến đâu?

Những câu hỏi của tôi chỉ tìm được một câu trả lời duy nhất là tiếng lõm bõm của nước dưới chân tôi trong cái im lặng của bãi vắng. Những tàu lá trên những cây dừa vây quanh bãi hoàn toàn bất động; không có chút gió nào lay động chúng. Tôi đã quen tắm vào mỗi tối. Tôi cởi bỏ áo quần và trầm mình vào làn nước ấm của biển. Tôi bơi lặn rất lâu mà không nghĩ ngợi gì, dưới cái nhìn khoan dung của vầng trăng đầu tháng.

NTS

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s