NGƯỜI MONG HẠNH PHÚC 02 Laurent Gounelle

PHAP

Nguyên tác: L’homme qui voulait être heureux, NGUYỄN TRẦN SÂM dịch từ  nguyên bản tiếng Pháp.

SÁU

Tôi thức dậy sau một giấc ngủ sâu hiếm có và nhận ra mặt trời đã lên cao. Tôi chọn vài thứ trái cây để ăn điểm tâm rồi đi dạo buổi sáng trong cánh rừng nhỏ cạnh bãi tắm. Khi đi đến gần căn nhà của Hans và Claudia, đôi người Hà Lan, tôi nhận ra tiếng họ.

“Nấu xong chưa? Hans hỏi khi đang ngồi trên một mỏm đá với cuốn sách trên đầu gối.”

Anh ta có bộ tóc màu xám tối, gương mặt ít biểu cảm, cặp môi khá mỏng.

“Sắp xong rồi anh ạ, sắp xong.”

Claudia là một phụ nữ mềm mại và duyên dáng, khoảng 40, gương mặt nổi giữa những búp tóc xoăn màu sáng. Chị ta đang nướng những xiên cá trên lò than ngoài trời.

“Em cho nhiều than quá, không cần, mà lãng phí.”

Anh ta nói mà không nghĩ rằng đó là sự chê trách. Đối với anh ta thì đó là sự thật, và chỉ có thế.

“Nhưng không thế thì nó lâu chín lắm.” Claudia bao biện.

Lần cuối khi tôi gặp họ, Claudia đang lau nhà, trong khi Hans ngồi đọc sách. Tôi tự hỏi: điều gì đã làm cho một người phụ nữ chấp nhận vai trò của người nội trợ ở thế kỷ XXI này? Theo Hans thì anh ta không phải kẻ gia trưởng. Đối với anh ta, việc người vợ làm nội trợ chắc là “bình thường”. Chắc chắn rằng vấn đề đó không được hai người đem ra bàn. Nó là như vậy.

“A, Julian, thật vui được gặp cậu! Claudia nói khi thấy tôi.”

“Chào Julian.” Hans nói.

“Chào anh.”

“Cậu có muốn dùng món cá nướng cùng chúng tôi không?”

Hans cau mày khó chịu.

“Không, cám ơn, tôi vừa ăn sáng rồi.”

“Cậu vừa mới dậy à? Hans hỏi. Sáng nay chúng tôi đã đi thăm hai nơi rồi: đền Tanah Lot và bảo tàng Subak ở Tabanan.”

“Ô, đáng phục!”

Anh ta không cảm thấy tính chất biếm trong câu trả lời của tôi. Hans là người chỉ nghe từ ngữ mà không giải mã được ngữ điệu và vẻ mặt khi người ta nói ra những từ đó.

“Cậu đi thăm hơi ít chỗ, tôi cảm thấy thế. Cậu không thích phải không?”

“Vâng, tôi chủ yếu thích vào làng, thích tranh luận với mọi người, thử đặt mình vào vị trí của họ để cảm nhận sự việc. Tìm hiểu xem văn hóa của họ là gì.”

“Julian thích khám phá văn hóa trực tiếp; còn anh, anh yêu, thì thích tìm hiểu văn hóa qua sách vở.” Claudia nói.

“Đúng, như thế nhanh hơn, tiết kiệm được thời gian.” Hans lên giọng.

Tôi đồng ý. Tranh cãi làm gì? Mỗi người có cách nhìn sự vật riêng của mình.

“Cậu có vui lòng đi cùng chúng tôi tối nay không? Claudia hỏi. Chúng tôi sẽ giúp tổ chức một buổi hòa nhạc gamelan ở Ubud, và đến tối thì sẽ đi xem rùa trên bãi Pemuteran. Bây giờ là thời kỳ trứng của chúng nở. Nó kéo dài cùng lắm hai đêm. Sau đó thì không còn mà xem nữa.”

Ý tưởng có một buổi tối cùng với Hans không làm tôi thấy hứng khởi, nhưng tôi rất muốn xem những con rùa mới nở. Và tôi cảm thấy việc tôi nhận lời sẽ làm Claudia thực sự vui.

“Đồng ý, thật vui vì đã rủ tôi. Chiều nay tôi cũng tới một nơi ở Ubud, sau đó sẽ đến gặp anh chị. Cho tôi địa chỉ đi.”

“Ở phòng khánh tiết, cậu biết đấy, cạnh chợ lớn. Lúc 19 giờ.” Claudia nói.

“Cậu đi xem các phòng tranh chứ?” Hans hỏi.

Ubud là làng nghệ thuật, và ở đó có quá nhiều phòng tranh.

“Không, tôi định tới gặp… nói thế nào nhỉ… một kiểu bậc thầy tâm linh.”

“Thế a? Để làm gì?”

Tôi biết rằng câu hỏi của anh ta là thực tâm. Hans là người sinh ra để hỏi vì sao bạn đi xem phim, vào nhà thờ hay nghĩa trang, hoặc vì sao bạn không còn mặc cái quần đã lỗi mốt nhưng vẫn còn dùng tốt. Theo anh ta, tất cả những gì không tạo ra sự vận động hợp lý đều là sự kỳ cục của tạo hóa.

“Ông ấy giúp tôi nhận biết một số thứ, và bằng cách nào đó giúp tôi tìm lại mình.”

“Tìm lại mình?”

Lần này thì giọng anh ta có vẻ sinh động và ngạc nhiên.

“Vâng, theo một kiểu nào đó.”

“Nhưng nếu cậu bị mất trí thì cái gì chứng minh rằng cậu tìm lại được mình ở Ubud chứ không phải ở New York hay Amsterdam?”

Thật nực cười. Thực sự là có những người hoàn toàn không biết gì về chiều không gian tâm linh.

“Tôi không mất trí. Nếu anh tra từ điển – một việc sẽ làm anh thấy thú vị vì nâng được tầm cảm xúc –, anh sẽ thấy từ “tìm lại mình” có nhiều nghĩa. Trong trường hợp này thì nó có nghĩa là: biết mình rõ hơn để có một cuộc sống hài hòa hơn với người cùng sống.”

“Đừng nóng, Julian.”

“Tôi không nóng.” Tôi nói tránh.

“Anh à, để cho Julian yên”, Claudia nói. “Có phải cậu rất hay đi bơi không, Julian?”

“Phải, gần như mọi ngày.”

“Bọn này cũng vậy, ngày đầu đã đi bơi rồi”, Hans nói. “Bọn này gặp may, trời đẹp, nước trong. Trong khoảng một giờ đã xem được gần hết những thứ quan trọng nhất.”

“Tôi thì thường xuyên quay lại; tôi rất thích bơi lặn giữa đàn cá, đến gần chúng. Chúng dạn đến mức có thể chạm vào chúng.”

Tôi chờ đợi anh ta hỏi: để làm gì?

“Con người từ cá biến thành. Julian đang tái kết nối với những tổ tiên vừa tìm lại được.”

“Còn anh thì đang chuẩn bị xơi một hậu duệ của các vị tổ tiên vừa nướng trên bếp than. Xấu thế! Mà thôi, tôi để anh chị dùng bữa đã. Chúc ngon miệng, hẹn tối gặp.”

“Cố tìm nhé. Quan trọng là đừng mất hy vọng: còn có cả một văn phòng tìm kiếm ở Jakarta đấy.”

“Hẹn tối gặp”, Claudia nói.

Suốt cuộc đi dạo, tôi luôn nghĩ đến Hans. Tôi tự hỏi anh ta có vấn đề gì. Dù sao thì anh ta cũng khá kỳ cục. Tôi cảm thấy anh ta không độc ác, không muốn làm tôi tổn thương. Anh ta chỉ mù tịt về một số vấn đề.

Tôi về căn nhà của tôi, chuẩn bị vài thứ, rồi nhảy lên xe. Đường đi lần này có vẻ thuận lợi hơn, và đến giữa chiều tôi đã tới trước nhà thầy Samtyang.

 

BẢY

Thiếu phụ trẻ lần trước lại đón tôi một cách nhã nhặn và đưa ngay tôi vào cái lán mà tôi đã ở đó. Lần này tôi có đủ thời gian để quan sát kỹ lưỡng chung quanh. Hôm nay lán có vẻ gọn gàng hơn. Vẻ thoáng đãng, yên bình và hài hòa bao trùm nơi mà tôi bắt đầu thấy thích. Tôi cảm thấy một nơi như vậy sẽ cho phép con người quên đi những điều phiền muộn. Ngay ở lối vào, người ta đã bỏ lại rất nhiều những ưu tư. Thời gian như dừng lại. Tôi có cảm giác là tôi có thể ở lại đó hàng năm trời mà không phải băn khoăn gì.

Tôi không thấy ông già đến. Tôi quay lại thì thấy ông đã ở bên cạnh. Chúng tôi chào nhau, và ông ấy bảo tôi là lần này ông ấy không thể dành cho tôi nhiều thời gian. Chán thật!

“Thế nào, anh đến videoclub ở Kuta chưa?” Ông hỏi tôi.

“Ờ… chưa, tôi gặp chút trục trặc.”

Ông ấy nói, không có vẻ gì bực bội hay trách cứ:

“Nếu anh thực sự hy vọng là tôi đi cùng anh trong cuộc hành trình làm anh tiến bộ trong đời thì dứt khoát anh phải làm điều tôi yêu cầu, ở mức nào mà anh có thể làm được. Nếu anh chỉ quay lại đây để nghe tôi nói thì sẽ không được gì đáng kể. Anh có sẵn sàng cam kết làm thế không?”

“Tôi đồng ý.”

Liệu tôi có thể lựa chọn, một khi tôi muốn tiếp tục gặp gỡ?

“Hãy nói vì sao anh chưa đi Kuta?”

“Ờ… Thật ra thì tối qua tôi hơi mệt, và cần nghỉ ngơi.”

Với giọng khoan dung, ông già nói:

“Nếu anh dối người khác thì cũng đừng tự dối mình.”

“Sao cơ?”

Tôi lúng túng.

“Anh sợ cái gì?”

Giọng ông đầy vẻ âu yếm, và mắt ông nhìn sâu vào mắt tôi. Đúng ra là nhìn sâu vào con người tôi. Tuy nhiên, tôi không cảm thấy khó chịu. Đó chính là điều tôi thấy. Con người này đọc tôi như đọc cuốn sách đang mở.

“…?”

“Anh có thể mất gì khi đến đó?”

Sao ông ấy lại đặt ra câu hỏi đó, để chạm ngón tay vào đúng chỗ phải chạm?

Sau vài giây im lặng, tôi thấy mình trả lời:

“Tôi cho rằng tôi muốn giữ lại sự ngưỡng mộ đối với diễn viên yêu thích của mình.”

“Anh sợ mất những ảo giác.”

Thật kỳ cục, nhưng chính xác. Kỳ cục hơn nữa là hôm qua tôi đã ngờ rằng ông ấy có lý khi động chạm đến điều đó. Thế thì sao lại phải phủ nhận sự thật?

“Có lẽ thế”, tôi nói.

“Thế là bình thường. Mọi người đều gắn quá chặt với những gì họ tin. Họ không tìm kiếm sự thật, họ chỉ muốn có một dạng cân bằng nào đó, và họ muốn tạo ra một thế giới ít nhiều gắn bó với nhau trên cơ sở những định kiến của họ. Điều đó làm họ yên tâm, và họ níu bám vào nhau một cách vô ý thức.”

“Nhưng tại sao họ không biết rằng những điều họ tin không phải là sự thực?”

“Hãy nhớ rằng cái mà ta tin sẽ thành sự thực.”

“Tôi không có ý định tin theo ông hoàn toàn, ông biết đấy, cái đó có lẽ là quá cao siêu đối với tôi. Hơn nữa, mặc dù tôi là kẻ mơ mộng, nhưng cũng duy lý. Đối với tôi thì thực tại là thực tại.”

“Điều đó đúng là rất đơn giản. Nếu tôi bảo anh nhắm mắt, bịt tai lại, rồi tả lại chính xác những gì có chung quanh, anh không thể nói hết có những gì. Thế là bình thường: người ta có thể biết hàng tỉ điều, nhưng không thể nắm bắt thấu đáo được hết. Anh chỉ cảm nhận được một phần của thực tại.”

“Nghĩa là…?”

“Ví dụ, trên bình diện thị giác, có rất nhiều thông tin liên quan đến vị trí, cách bố trí vách và cọc các lán, đám cây cối với hàng ngàn chiếc lá đang rung lên theo cơn gió nhẹ. Ngoài ra còn đồ gỗ, các bức tranh, đồ dùng. Mỗi thứ đó lại được làm bằng nhiều thứ nguyên liệu khác nhau. Nguyên liệu không cùng loại, màu sắc không giống nhau. Còn hàng đống thông tin liên quan đến ánh sáng, bóng cây, bầu trời, những đám mây đang bay, mặt trời. Chỉ riêng cơ thể tôi đã cho anh hàng ngàn thông tin liên quan đến dáng đứng, điệu đi, cái nhìn, vẻ mặt thay đổi từng giây. Mà tất cả những thứ đó mới liên quan đến thị giác.

Thêm vào đó là những thông tin thính giác: những tiếng xào xạc gần xa, sự thay đổi giọng nói của tôi, về âm lượng, về ngữ điệu và nhịp điệu, tiếng cọ xát của quần áo khi ta đi lại, tiếng côn trùng vo ve, tiếng chim kêu đâu đó, tiếng gió lay tán lá, vân vân.

Nhưng chưa hết: anh còn ngập trong những thông tin khứu giác và xúc giác. Nhiệt độ không khí, độ ẩm, mùi hương của các loài cây lúc đậm lúc nhạt do dòng không khí chuyển động, cảm giác tiếp xúc của rất nhiều điểm trên cơ thể anh với nền nhà,…”

“OK, OK, ông đã thuyết phục được tôi, tôi ngắt lời. Tôi biết, tôi không thể truyền đạt hết những thông tin này khi nhắm mắt và bịt tai. Đúng thế.”

“Và cái đó có một lý do rất đơn giản: anh không nhận biết được tất cả những thông tin đó. Chúng có quá nhiều, và tâm trí anh chọn lựa một cách vô ý thức. Anh để ý đến mấy thứ và không để ý những thứ khác.”

“Vâng, chắc chắn thế.”

“Điều thú vị là sự lựa chọn không giống nhau đối với anh và tôi. Nếu yêu cầu nhiều người làm thí nghiệm này và liệt kê những thứ mà họ quan sát thấy chung quanh thì ta sẽ không có nổi hai danh sách trùng nhau. Mỗi người đưa ra một danh sách riêng.”

“Đồng ý.”

“Mà sự lựa chọn cũng không phải hú họa.”

“Sao lại thế?”

“Sự lựa chọn là đặc trưng cho từng người, và phụ thuộc vào những định kiến của người đó, vào những gì người đó hay để ý trong thế giới chung quanh, tóm lại là vào cách nhìn nhận cuộc sống.”

“Sao?”

“Định kiến làm ta lọc lựa thực tại, nghĩa là lọc lựa những gì ta nhìn thấy, nghe thấy và cảm thấy.”

“Cái này đối với tôi khá trừu tượng.”

“Tôi sẽ cho anh một ví dụ, một ví dụ hơi đặc biệt để đơn giản hóa vấn đề.”

“OK.”

“Hãy hình dung là anh tin một cách vô ý thức rằng thế giới đầy bất trắc, cần đề phòng và tự vệ. Coi đó là suy nghĩ của anh, được không?”

“Được.”

“Nếu niềm tin này khắc sâu trong anh, thì theo anh, sự chú ý của anh sẽ hướng vào cái gì bây giờ? Anh sẽ thu lượm những thông tin nào, nếu anh, sâu bên trong, tin rằng thế giới đầy bất trắc?”

“À… để xem… Tôi không biết, tôi nghĩ là tôi sẽ bắt đầu cảnh giác một chút với ông, vì dù sao thì tôi cũng chưa hiểu rõ ông. Tôi cho rằng tôi sẽ quan sát nét mặt ông để thử đọc những ý nghĩ của ông, để hiểu những điều ẩn sau những lời nhã nhặn của ông. Và tôi sẽ chú ý xem trong lời nói của ông có mâu thuẫn hay không, để xem ông có đáng tin không. Rồi tôi sẽ liếc nhìn cổng vườn để xem nó có mở hay không, để còn rút lui khi có vấn đề. Thế… và thêm… để xem… có thể tôi sẽ chú ý đến cái xà này, nó có vẻ như có thể bất chợt rơi xuống đầu. Và tôi sẽ liếc nhìn con tắc kè đang kêu trên xà, tôi sợ nó rơi xuống và cắn tôi. Tôi ngại cái loại bò sát này. Tôi sẽ để ý xem cái chiếu có cũ lắm không, liệu nó những cái dằm ở đó có đâm vào da thịt tôi không.”

“Thế đấy. Sự chú ý của anh sẽ hướng đến những thứ có tiềm năng gây nguy hiểm ở chung quanh. Và nếu người ta hỏi anh tả mọi thứ chung quanh khi anh nhắm mắt, những thứ đó sẽ hiện ra trong tâm trí anh.”

“Chắc chắn là như thế.”

“Bây giờ, hãy hình dung rằng anh có niềm tin ngược lại, rằng thế giới là thân thiện, mọi người đều lịch sự, trung thực và đáng tin, và cuộc sống có biết bao điều thú vị để tận hưởng. Hãy coi như niềm tin này đã ăn sâu vào trong anh. Khi đó anh sẽ chú ý đến những gì, và sẽ tả lại những gì khi nhắm mắt và bịt tai?”

“Tôi nghĩ tôi sẽ nói về cây cối, chúng thật đẹp, về cơn gió nhẹ đang xua đi làn hơi nóng. Tôi cũng nghĩ là tôi sẽ nói về con tắc kè, vì tôi đã được nghe câu: “Hãy yên tâm, có một con tắc kè dưới mái nhà thì ít nhất là sẽ không còn lũ côn trùng lẩn khuất chung quanh.”

Rồi tôi tả lại vẻ mặt thanh thản của con người đáng kính đang giúp tôi phát hiện ra nhiều điều thú vị kể cả khi tôi không trả công ông ấy.”

“Chính xác! Niềm tin vào thực tại, vào thế giới chung quanh, có tác dụng như bộ lọc, như cặp kính giúp ta thấy chi tiết theo cách ta tin. Và điều đó lại củng cố thêm niềm tin của ta. Đó là vòng tròn khép kín. Nếu người ta coi thế giới là đầy bất trắc thì người ta sẽ chú ý đến những mối nguy thực tế hoặc tiềm năng, và càng ngày người ta sẽ càng có cảm giác rằng thế giới là nguy hiểm.”

“Đúng là rất logic.”

“Nhưng sự việc chưa dừng ở đó. Định kiến của ta cũng cho ta cách diễn dịch thực tại.”

“Diễn dịch?”

“Anh vừa nói đến vẻ mặt của tôi. Cái vẻ đó, cũng như điệu bộ của tôi, có thể diễn dịch theo nhiều cách. Niềm tin của anh giúp anh tìm ra một cách diễn dịch: nụ cười được coi như dấu hiệu của sự thân thiện, lịch sự, hấp dẫn, hoặc sự giễu cợt, chế nhạo, sự lấy lòng. Một cái nhìn chăm chú, như một dấu hiệu rõ ràng của sự quan tâm, hoặc ngược lại, giống như đe dọa hay gây bất ổn. Và mỗi người lại có cách diễn dịch riêng. Định kiến của anh về thế giới dẫn đến việc anh gán ý nghĩa cho những thứ còn chưa rõ ràng hay bất định. Và cái đó lại càng củng cố thêm định kiến của anh. Thêm một lần nữa.”

“Tôi bắt đầu hiểu vì sao ông lại nói điều ta tin trở thành hiện thực.”

“Phải, nhưng nó chưa dừng lại ở đó.”

“Mánh lới của ông thật khó chịu.”

“Khi anh tin vào một điều, nó sẽ làm cho anh chấp nhận dần một thái độ nhất định, và cái đó lại ảnh hưởng đến thái độ của những người khác theo nghĩa là củng cố điều mà người khác tin.”

“Ô cha cha, phức tạp quá.”

“Đơn giản thôi. Vẫn xét trường hợp cũ: anh tin rằng thế giới là nguy hiểm, cần đề phòng. Anh sẽ xử sự ra sao khi gặp những người mới?”

“Tôi sẽ cẩn thận.”

“Đúng, và gương mặt anh sẽ tỏ vẻ dửng dưng, như không quan tâm nhiều.”

“Chắc vậy.”

“Nhưng những người gặp anh lần đầu sẽ cảm nhận được vẻ mặt đó. Họ sẽ xử sự khi đối mặt với anh như thế nào?”

“Thực tế thì có khả năng là họ sẽ đề phòng và không cởi mở với tôi.”

“Chính thế! Ngoài ra, chính anh, anh cũng sẽ thấy, anh sẽ cảm thấy họ đóng kín và hơi lạ lùng. Hãy đoán xem anh sẽ diễn dịch ra sao, dưới ảnh hưởng của những định kiến của anh.”

“Chắc chắn tôi sẽ tự nhủ là tôi có lý do để đề phòng.”

“Và định kiến của anh càng tăng thêm.”

“Thật đáng sợ.”

“Trong trường hợp này thì đúng thế. Nhưng trong trường hợp ngược lại thì cũng thế: nếu anh, sâu bên trong, tin rằng thế giới là đáng yêu, anh sẽ có cách xử sự cởi mở với mọi người, anh sẽ cười với họ, tỏ ra bình thản. Và chắc chắn rằng cái đó sẽ làm chính họ cởi mở, bình thản khi anh ở gần họ. Anh sẽ chứng tỏ một cách không có chủ định rằng thế giới thật đáng yêu. Và niềm tin của anh càng mạnh thêm. Nhưng cần hiểu rằng toàn bộ quá trình này là vô thức. Chính vì vậy mà nó rất mạnh mẽ. Không phải là lúc nào anh cũng tự bảo mình một cách có ý thức: “Thật tốt là tôi tin rằng mọi người thật thân thiện.” Không. Anh không có nhu cầu nói với mình điều đó, vì đối với anh thì điều đó là đương nhiên. Nó là như thế, mọi người đều đáng yêu, đó là sự thật hiển nhiên. Cũng theo cách đó, những người tin rằng cần luôn đề phòng người khác sẽ thấy tự nhiên khi gặp những người khép kín, khó chịu, hay kêu ca.”

“Điên thật. Cuối cùng thì, dù không để ý, mỗi người đều tạo ra thực tại của riêng mình, kết quả của định kiến riêng. Đúng là điên rồ. Kỳ quặc.”

“Cái từ mà anh vừa nói xong được chọn rất đạt…”

Tôi đoán rằng ông già thấy khá hài lòng. Chắc ông ấy cảm thấy rằng tôi bắt đầu hiểu sức mạnh và tầm quan trọng của thứ lý thuyết này. Ông ấy đúng khi cho rằng tôi sai lầm. Tôi có cảm giác rằng con người là nạn nhân của những ý nghĩ, định kiến, niềm tin của mình, nếu dùng cách nói của ông ấy. Điều đáng sợ nhất có lẽ là họ không nhìn nhận một cách tỉnh táo. Và vì nguyên nhân là họ không nhận ra rằng họ tin không phải do hiểu thật thấu đáo. Niềm tin của họ không dựa vào sự nhận biết có ý thức. Tôi muốn la lên với cả thế giới, giải thích với mọi người rằng cần phải chấm dứt tin vào mọi thứ; tôi muốn nói với họ rằng họ đang làm hỏng đời vì những điều không có thực. Tôi thấy tôi lái một chiếc ô-tô giống như của gánh xiếc đi khắp hành tinh; tôi hét to lên qua chiếc loa phóng thanh đưa tiếng nói của tôi đến mọi thôn làng: “Thưa các quý bà quý ông, hãy dừng ngay việc tin vào những gì quý vị đang tin. Hãy tin tôi, quý vị đang tự làm mình đau khổ.” Chưa đến ba ngày sau, những người mặc đồ trắng đến tìm tôi và ném cho tôi tấm áo dành cho người điên. Và rạp xiếc của tôi khi đó phải có những cánh cửa nhồi bông.

“Được rồi, thế thì những định kiến mà người ta có, chúng liên quan đến những lĩnh vực nào? Chúng vươn tới tận đâu?”

“Mọi người chúng ta đều phát triển định kiến về chính mình, về người khác, về các mối quan hệ với người khác, về thế giới chung quanh, từ khả năng hợp nhất những nghiên cứu của chúng ta đến việc dạy dỗ con cái, trong khi nâng cao năng lực nghề nghiệp, và quan hệ vợ chồng. Mỗi người đều mở ra trong chính mình một hệ thống định kiến. Chúng nhiều đến mức không đếm được, và chúng định hướng cuộc đời ta.”

“Và một số là tích cực, số khác là tiêu cực, phải không?”

“Không, không hẳn như vậy. Người ta không thể phán xét các định kiến của chúng ta. Điều duy nhất có thể khẳng định là chúng không phải thực tại. Tuy nhiên, có một điều thú vị hơn, là hiểu được tác động của chúng. Mỗi định kiến đều có xu hướng sản sinh ra cùng lúc những tác động tích cực và hạn chế. Hiện giờ tôi đã biết được có một số định kiến dẫn đến nhiều tác động tích cực hơn.”

“Vâng, tôi cảm thấy là người ta sẽ quan tâm chủ yếu đến việc tin rằng thế giới là thân thiện, phải không? Và tôi không thấy niềm tin rằng thế giới là nguy hiểm có tác động tốt ở chỗ nào.”

“Có đấy, dù sao thì cũng có. Niềm tin như vậy chắc chắn sẽ làm cho anh cảnh giác quá đáng, làm cuộc sống đảo lộn, nhưng thực tế là vào một ngày mà anh gặp một mối nguy có thực thì anh sẽ đề phòng kỹ hơn so với người cho rằng mọi việc trên đời đều tốt đẹp.”

“Oái…”

“Chính vì thế mà nên có ý thức về cái mình tin, nên hiểu rằng cái đó chỉ là định kiến, để phát hiện ra những hệ quả của nó đối với cuộc sống của chúng ta. Điều đó có thể giúp ta hiểu rõ nhiều điều mà ta trải nghiệm…”

“Với mục đích đó, hôm qua ông đã nói với tôi là ta sẽ tiếp cận cái mà cản trở tôi hưởng hạnh phúc.”

“Phải, nhưng trước hết tôi muốn anh hành động một mình: tôi giao cho anh hai  nhiệm vụ mà anh sẽ phải thực hiện sau cuộc gặp này, trong khi chờ ta gặp lại sau.”

“Đồng ý.”

“Điều thứ nhất là mơ trong khi đang thức hoàn toàn.”

“Cái này thì tôi nghĩ tôi sẽ làm.”

“Anh sẽ mơ rằng anh đang ở trong một thế giới mà mọi điều đều có thể. Hãy hình dung rằng không hề có một giới hạn nào đối với khả năng thực hiện mọi việc của anh. Hãy làm như anh sẽ có mọi thứ bằng cấp trên đời, có mọi phẩm chất, có trí tuệ siêu việt, có khả năng cảm nhận rất tốt, có ngoại hình như trong mơ… mọi thứ anh muốn. Mọi thứ đối với anh đều có thể.”

“Tôi nghĩ tôi thích giấc mơ này.”

“Tiếp theo, anh hãy hình dung xem cuộc sống của anh sẽ ra sao trong khung cảnh này: khi anh làm mọi việc cũng như lúc rảnh rỗi, thử xem cuộc sống của anh diễn tiến ra sao. Hãy nhìn cuộc sống theo tinh thần mọi việc đều có thể. Rồi anh ghi chép và nói lại cho tôi.”

“Rất vui lòng.”

“Nhiệm vụ thứ hai là thực hiện vài công việc nghiên cứu.”

“Nghiên cứu?”

“Phải, tôi muốn anh tập hợp các kết quả nghiên cứu khoa học mà người ta đã thực hiện ở Mỹ về tác dụng của các loại thuốc uống. Chúng ta sẽ cùng bàn về các kết quả đó.”

“Nhưng tôi tìm những thứ này ở đâu?”

“Ở Mỹ, mọi phòng thí nghiệm dược học đều phải tiến hành những nghiên cứu như vậy, vì đó là bắt buộc; họ không có quyền đưa ra thị trường một loại thuốc mới khi chưa chứng minh được một cách khoa học rằng nó có tác dụng hơn so với một placebo, tức là một thứ không có tác dụng gì. Việc đó gián tiếp cung cấp những số liệu chính xác về tác dụng của các thứ placebo. Không ai dùng đến các số liệu đó. Tuy nhiên, tôi thấy cái đó đáng quan tâm. Tôi biết rằng có những phòng thí nghiệm công bố các kết quả đó. Anh sẽ phải tìm chúng.”

“Ông biết chúng?”

“Chắc chắn.”

“Nhưng nếu thế thì ông yêu cầu tôi tìm chúng làm gì? Chúng ta sẽ tiết kiệm được rất nhiều thời gian nếu nói ngay ra. Ông biết đấy, thứ bảy này tôi bay về nhà rồi; việc đó sẽ làm tôi ít có cơ hội gặp ông…”

“Nhưng việc nghe một người nào đó truyền đạt lại thông tin và việc tự mình tìm kiếm tại nguồn không giống nhau.”

“Xin lỗi, nhưng tôi không thấy có gì khác nhau.”

“Nếu tôi nói lại với anh thì anh luôn có thể nghi ngờ các số liệu mà tôi nêu ra. Và vì anh có biết ít nhiều, tôi biết là anh sẽ làm việc đó. Có thể không phải ngay bây giờ, mà là sau này… Hơn nữa, người ta tiến bộ không phải do nghe ai đó nói, mà là do hành động và sống qua những trải nghiệm.”

“Nhưng tôi có thể thu thập thông tin từ đâu? Tôi không ở khách sạn. Tôi không có phương tiện nào để vào mạng Internet, và cũng không thấy quán net nào trên đảo.”

“Người nào dừng bước trước khó khăn đầu tiên sẽ không đi được xa trong cuộc sống. Hãy tiến bước! Tôi khuyên anh đấy.”

“Điều cuối cùng: ngày mai tôi phải quay lại đây lúc mấy giờ thì ông có thời gian để tiếp?”

Ông già mỉm cười nhìn tôi mấy giây. Tôi tự hỏi liệu tôi có vừa nói gì không phải hay không. Ngày hôm nay, tôi đã mắc lỗi rất nhiều.

“Điều chủ yếu là đừng tin rằng anh cần đến tôi. Thời gian mà tôi có thể dành cho anh sẽ có đủ khi anh đến.”

 

TÁM

Trở lại xe, tôi tự hỏi làm thế nào mà ông già này có thể luôn tự tại, thanh thản, với cái nhìn độ lượng, đôi khi nói về những điều mà tôi không hề muốn nghe.

Đây thực sự là một con người kỳ lạ, không giống bất cứ ai. Và tôi liên tục ngạc nhiên vì sự hiểu biết của ông ấy về phương Tây, xứ sở tương phản với con người ông ấy. Tôi dễ dàng đoán ra rằng ông ấy chưa bao giờ rời khỏi làng, và tôi thấy khó hình dung ra làm thế nào mà ông già của đầu bên kia thế giới này có thể có được sự hiểu biết như vậy về những nghiên cứu của phương Tây. Kỳ lạ.

Tôi bắt đầu để ý đến đường đi, và về đến Ubud rất nhanh. Mặt trời đã xuống sát đường chân trời, và khi tôi dừng xe ở gần chợ lớn thì trời đã tối. Mùi hương tỏa ra từ bồn hoa của một nhà hàng nhỏ. Người Bali dùng hương để xua muỗi. Có thể thấy những nhành cây bị khô đi phía trên những chiếc cốc cắm hương đặt trong vườn hoặc ngoài cổng nhà. Điều đó góp phần tạo ra không khí huyền ảo trong đêm ở Ubud.

Tôi vào nhà hàng, ngồi dưới gốc cây và gọi món cá nướng. Những cây nến được đặt trên bàn trong vườn cùng với những chiếc đèn cây trồng trên cỏ đang cháy lom rom và tỏa ra thứ ánh sáng mờ và nóng. Những tiếng gọi í ới vọng lại từ cuối phố, chắc là của những người Bali gọi du khách nước ngoài để mời đi taxi. Tôi còn một giờ trước khi đến buổi hòa nhạc. Bali là nơi duy nhất mà tôi không nhìn đồng hồ cứ nửa tiếng một lần. Ở đây, thời gian không thành vấn đề. Đến giờ thì đến, thế thôi. Cũng như thời tiết: không ai quan tâm trời sẽ thế nào. Dù thế nào thì mỗi ngày cũng có cả nắng mưa. Cứ thế. Người Bali nhận những cái mà các vị thần cho họ mà không đặt ra những câu hỏi rắc rối.

Tôi nhớ lại yêu cầu của nhà hiền triết là mơ một cuộc sống lý tưởng mà trong đó tôi sẽ hạnh phúc. Tôi cần một ít thời gian để tưởng tượng ra mình là một người có thể đạt được mọi thứ, và tưởng tượng xem cuộc sống của mình sẽ ra sao. Hàng ngày, mọi người không nhìn nhận theo kiểu đó. Riêng tôi, tôi phải có thói quen mỗi ngày đều để ý đến tất cả những gì xảy ra trong cuộc sống, suy nghĩ về những điều mà tôi thực sự muốn có…

Trong khi tôi thả mình vào giấc mơ, một ý nghĩ xuất hiện trong tâm trí tôi là: nếu mọi việc đều có thể thì tôi sẽ chuyển nghề. Làm thầy giáo là một nghề cao quý, nhưng tôi đã dạy một môn đủ lâu cho những học trò không yêu thích nó, thậm chí rất chán nó. Tôi biết chắc chắn rằng có thể tìm cách làm học trò học thuộc và quan tâm hơn đến môn học, nhưng tôi lại bị buộc phải áp dụng một chương trình chính thức và những phương pháp sư phạm mà đã hoàn toàn không còn phù hợp đối với học trò ngày nay. Tôi không chịu được việc làm ‘bánh kẹp’: làm theo những yêu cầu của cả bộ máy hành chính lẫn của công việc chuyên môn, những yêu cầu hoàn toàn trái ngược nhau. Tôi thèm có một bầu không khí mới, để thay đổi căn bản hoạt động nghề nghiệp của mình, và để thể hiện mình trong lĩnh vực nghệ thuật. Tôi mơ được làm nghề của mình với cả sự say mê, mà tôi thì say mê nhiếp ảnh. Tôi thích thể hiện những vẻ mặt bằng những bức chân dung để lộ ra cá tính của chủ thể, những xúc cảm, những trạng thái tâm hồn. Ngay cả việc chụp ảnh cưới cũng làm tôi thích. Nếu mọi việc đều có thể, tôi sẽ lập ra một studio ảnh của riêng mình. Không phải là một xưởng làm ảnh thông thường, không, mà là một studio chuyên về ảnh chộp những khoảnh khắc, hoàn toàn chân thực, để nắm bắt được những thái độ và những biểu hiện cho thấy nhân vật đó là ai. Ảnh của tôi sẽ kể những câu chuyện. Khi nhìn chúng, người ta sẽ hiểu mỗi người đang nghĩ gì và chịu đựng những gì. Chúng sẽ giải mã những cảm xúc của các bậc cha mẹ, những hy vọng và lo âu của bố mẹ vợ hay bố mẹ chồng, ánh mắt của người chị đang tự hỏi khi nào thì đến lượt mình, ánh mắt của cặp vợ chồng vừa ly hôn đang nói thầm rằng cặp vợ chồng mới cưới đã từng tin vào ông già Noël. Tôi cũng muốn làm cho mọi người đều hạnh phúc mãi mãi, và lúc nào họ cũng có thể nhìn lại để lại chìm vào thời điểm tuyệt vời này, để lại có được những cảm xúc cũ của họ. Một bức ảnh tốt nói lên nhiều điều hơn bất kỳ cuộc diễn thuyết nào.

Studio của tôi sẽ rất thành công và có được danh tiếng. Báo chí sẽ quan tâm đến nó và đăng lại một số tác phẩm của tôi. Cuối cùng, tôi sẽ nổi tiếng vì tài năng của mình. Ô, thật dễ chịu. Tôi sẽ giữ giá cả hợp lý để đem sự phục vụ của tôi đến cho đông đảo quần chúng. Mặc dù vậy, tôi vẫn dễ dàng có thu nhập gấp đôi, thậm chí gấp ba suất lương giáo viên hiện giờ. Cuối cùng, tôi có thể tậu một ngôi nhà. Một ngôi nhà đẹp mà tôi sẽ tự thiết kế và chỉ đạo xây dựng. Tôi sẽ có một mảnh vườn và cuối tuần sẽ vào đó nằm duỗi dài trên ghế xếp đọc sách, dưới bóng cây gia. Tôi sẽ nằm trên cỏ nghỉ trưa, tận hưởng hương thơm của hoa bạch cúc. Và rồi tôi sẽ có một cô gái mà tôi yêu và nàng cũng yêu tôi. Cái đó sẽ tự đến… Tôi cũng sẽ chơi piano. Lúc nào tôi cũng muốn chơi một loại nhạc cụ. Lần này, tôi sẽ thực hiện. Rồi tôi sẽ trình diễn các dạ khúc của Chopin, vào buổi tối, trong phòng khách lớn, trong khi củi cháy lẹt đẹt trong lò sưởi. Thỉnh thoảng, tôi lại mời bạn bè đến nghe tôi đàn. Niềm hạnh phúc của tôi sẽ truyền sang họ.

“Cá của ông đây, thưa ông.”

“Ờ, sao cơ?”

“Ông muốn dùng chanh hay nước xốt cay?”

“Cho tôi chanh, cám ơn.”

Con cá của tôi nằm gọn trong đĩa, và tôi có cảm giác con mắt của nó đang nhìn tôi. Tôi cảm thấy như có tội vì mơ mình hạnh phúc trong khi con cá phải chết vì tôi. Nó nhìn tôi trừng trừng như đang nhắc nhở.

Tôi rất ngạc nhiên nhận thấy giấc mơ của tôi không quá đáng. Tôi không cần phải trở thành tỉ phú hay ngôi sao nhạc rock hoặc chính trị gia nổi tiếng mới có thể hạnh phúc. Mặc dầu vậy, giấc mơ và hạnh phúc của tôi có vẻ như không thể có được. Tôi muốn ở bên ông thầy lang để ông hé mở cho tôi cánh cửa đến với cuộc sống mà tôi muốn có. Cái cánh cửa mà một khi đã đóng lại thì sẽ để lại cho tôi vị đắng khi tôi nhận ra toàn bộ sự khác biệt mênh mông giữa giấc mơ và hiện thực.

Tôi còn phải thực hiện nhiệm vụ còn lại mà ông già giao cho tôi. Tôi tự hỏi có thể tìm nơi truy cập Internet ở đâu. Chắc chắn phải đến khách sạn, với điều kiện là nó đủ sang để có trang bị mạng. Nhưng có nguy cơ người ta sẽ từ chối cho tôi sử dụng, vì tôi không ở đó. Được, sáng mai tôi sẽ thử. Tôi sẽ tìm cơ hội ở một trong những khách sạn hạng sang trên bờ biển. Tôi sẽ bịa ra chuyện gì đó và cố xoay xở xem sao.

Con cá có vẻ không tán thưởng ý định của tôi. Nó tiếp tục nhìn xoáy vào tôi bằng con mắt gây cảm giác tội lỗi. Không còn muốn ăn nữa, tôi kết thúc bằng cách yêu cầu tính tiền, rồi bỏ lại nửa đĩa. Thật tiếc, ông già ạ, ông sẽ chết không vì lý do gì.

Ra đến ngoài, tôi thấy lại cảnh yên bình của đường phố. Tôi gặp Hans và Claudia trước phòng khánh tiết. Họ đang đứng và ăn vội một thứ gì đó giống như sandwich nhưng kém ngon. Cũng bình thường thôi: tìm món ngon làm gì? Ăn bằng tay thì đỡ mất thời gian, mà đỡ đắt. Ngắn gọn là như thế hợp lý hơn!

“Chào Julian!” Họ nói cùng lúc.

“Chào anh chị. Chiều nay hai người đi thăm được bao nhiêu ngôi đền rồi?”

“Xin nói là hôm nay bọn này vớ hời đấy”, Hans trả lời.

“Buổi hòa nhạc sẽ không bắt đầu muộn đâu”, Claudia thông báo.

Phòng khánh tiết này thực sự giống như một rạp hát nổi để trần. Nó gần như đã đầy khán giả, và chúng tôi ngồi vào sâu bên trong, ở trên cao, nhưng chính diện. Tôi, một kẻ nghe nhạc khó tính, vốn không thích gamelan, một kiểu đàn kết bằng ống vầu có âm vực hạn chế và những âm thanh không thật tinh tế. Tối đó có ít nhất tám cái đặt trên sân khấu, và khi buổi hòa nhạc bắt đầu, tôi ngạc nhiên vì chiều rộng của dải âm thanh vang lên trong rạp. Âm thanh ban đầu nghe chói chang, thậm chí rất chối tai, nhưng sau đó thì có vẻ có gắn kết với nhau. Cuối cùng thì tôi nhận ra có một cái gì đó rất huyền ảo trong cái thứ âm nhạc mà đối với người phương Tây là thiếu hòa hợp này. Sau một lúc thì sự lặp lại của giai điệu làm bạn bị thôi miên, và rồi bạn chuyển sang trạng thái thứ hai, giống như được đưa đi bởi những âm thanh cám dỗ đang chi phối tâm trí bạn. Một mùi hương mạnh tỏa khắp rạp, trùm lên khán giả. Khoảng mười hay hai mươi phút trôi qua, cũng có thể là hơn, vì tôi bị mất cảm giác về thời gian, và những vũ nữ hiện ra trên sân khấu, khoe những bộ trang phục truyền thống rực rỡ và tuyệt đẹp. Mái tóc họ được uốn cầu kỳ, với một búi có đính ngọc trai và những chiếc nơ. Những bước nhún nhảy của họ chính xác và tinh tế. Mỗi chuyển động của họ đều mang vẻ nữ tính và duyên dáng đến mức khó tin. Từ xa, tôi vẫn thấy mắt họ như bị thất thần, và tôi lập tức hiểu ra: họ đang nhập đồng, đang múa trong trạng thái bị thôi miên. Thật ấn tượng khi nhìn họ múa trong trạng thái đó, họ chuyển động hoàn toàn theo nhịp điệu, theo âm thanh của những chiếc đàn gamelan đang tạo ra sự nhập đồng của họ và truyền cả trạng thái đó sang khán giả. Sự dịch chuyển của họ rất nhịp nhàng, sự phối hợp là hoàn hảo. Tay họ đóng vai trò chủ đạo trong điệu múa. Họ lướt đi trong một chuỗi những cử động rất tinh tế, rất bài bản mà sự duyên dáng chính là do sự chính xác mang lại. Công chúng bị chinh phục hoàn toàn, và tôi cảm thấy họ như đang uốn theo những vũ nữ. Mùi hương càng làm chúng tôi say mê. Chỉ một mình Hans là chốc chốc lại nhìn đồng hồ. Claudia hoàn toàn bị màn biểu diễn chinh phục. Tôi có cảm giác là chị ta đang ở trạng thái thăng hoa, hiện tượng làm cho anh chồng làm khoa học rất quan tâm. Nhịp điệu của điệu múa nhanh dần, và tiếng đàn gamelan vang to thêm, chiếm lấy tâm trí tôi, ám ảnh tâm hồn tôi, cái bây giờ không còn là của riêng tôi nữa. Mùi hương tràn ngập cơ thể tôi và thấm đẫm trong từng thớ thịt tôi. Những chùm sáng màu trên sân khấu như quay trong đầu tôi, trong khi mỗi tế bào cơ thể tôi rung lên theo nhịp âm thanh của bộ gõ.

 

CHÍN

Thật khó lái xe trong đêm sau một buổi hòa nhạc như vậy. Rất may là tôi chỉ cần đi theo xe của đôi người Hà Lan mà không cần để ý về đường đi. Tôi biết rằng tôi có thể tin vào Hans: anh ta giữ được tỉnh táo hoàn toàn. Tôi lái xe như cái máy, và cảm thấy đường thật xa. Xe đi qua những cánh rừng, những khoảng đồng trống và rất nhiều làng mạc, làm tôi phải rất tập trung để khỏi va vào những người đang còn đi trên đường. Khó nhất là tránh những chiếc xe đang lao tới số, mà hầu như không bật đèn. Người Bali tin vào sự luân hồi, và do đó không sợ chết. Cái đó làm họ thiếu thận trọng, bất kể đi bộ hay đi xe… Kẻ hữu tử đáng thương như tôi đành phải nhân đôi sự đề phòng.

Đã là nửa đêm khi chúng tôi về đến bãi Pemuteran. Trời tối đen, nhưng những điểm sáng cho thấy có rất nhiều người trên bãi. Vầng trăng thỉnh thoảng lại hiện ra như chơi ú tim với những đám đông, và chiếu thứ ánh sáng trắng lạnh lên những con sóng đang liếm láp bờ cát. Bây giờ, cả ba chúng tôi đang đứng trước một vị chức trách đang cho người vào bãi.

“Chào ông, chúng tôi đến để xem rùa”, Hans nói.

“Xin chào. Các vị được quyền vào bãi nếu tuân thủ quy định là không được đến gần những con rùa trưởng thành dưới hai mét. Không được nói to quá. Và các vị phải đứng yên một bên, không được đi vào khoảng trống giữa những con rùa và nước biển.”

“Đồng ý.”

“Chúc buổi tối vui vẻ.”

Chúng tôi đi trên cát trong im lặng, hít thở bầu không khí ban đêm được làm nóng bởi những mùi hương của biển. Chúng tôi thấy những khối lớn tối đen rải rác trên cát. Ánh trăng thỉnh thoảng lại sáng lên lờ mờ như ánh đèn trời cho thấy sự xuất hiện của những sinh vật tiền sử kém bạo dạn. Chúng tôi lặng lẽ nhìn chúng rất lâu, cố gắng không làm chúng hoảng sợ. Chúng đang chuẩn bị thực hiện một hành động đẹp nhất trên đời trong sự im lặng thiêng liêng mà tiếng sóng vỗ nhẹ không làm xao động. Chúng tôi chìm vào thế giới của sự chậm rãi, chìm vào sự tĩnh lặng gần như bất động trong thời khắc hiếm có này, và cảm thấy được từng nhịp đập của tim mình được cộng hưởng trong từng phần cơ thể.

Những giây phút chậm chạp trôi đi như vậy, và chúng tôi không nói một lời, sau đó hướng về phía một đám người tụ tập ở góc xa. Họ thuộc một hiệp hội bảo vệ thiên nhiên được phái gấp tới nơi nhân dịp này. Họ bảo vệ những con rùa và trứng của chúng, vì khi đã được đẻ ra thì trứng sẽ bị rùa mẹ bỏ lại trong cát. Họ giải thích với chúng tôi là họ tiến hành ghi chép việc sinh nở của rùa để có số liệu thống kê hàng năm. Loài rùa này đã bị săn bắt từ hàng trăm năm, nhưng bây giờ, thấy được nguy cơ biến mất của chúng, đã ra lệnh cấm buôn bán. Từ đó, việc săn bắt trái phép trở nên khó khăn, và các nhà chức trách đang cố gắng bảo vệ những bãi hiếm, nơi diễn ra mùa sinh sản rất ngắn của loài rùa: mỗi năm một hoặc hai đêm.

Những con rùa hôm nay đến đây đẻ cũng đã được sinh ra ở đây, trên chính bãi cát này, từ hơn 50 năm nay. Chúng du hành đến đây trong suốt bấy nhiêu năm, vượt hàng chục ngàn cây số, đến để đem lại sự sống cho chính cái nơi mà chúng đã sinh ra trước đó nửa thế kỷ. Con người không biết được tại sao; không một công trình khoa học nào giải thích được điều đó. Sự việc là như vậy. Và rất sinh động.

Tôi nhìn những con rùa lặng lẽ đang mang giữ điều bí mật, một sự thông thái bí ẩn hàng ngàn năm này. Vì sao chúng trở lại đây? Chúng làm thế nào mà nhớ được chỗ này? Làm thế nào mà chúng định hướng được khi vượt đại dương tới đây, chính cái nơi sinh của chúng? Ý nghĩa của hành động đó là gì? Toàn những câu hỏi không thể trả lời.

Chúng tôi chờ xem cuộc đẻ trứng diễn ra trong ba giờ, và với đôi mắt mở to, trái tim nhạy cảm, chúng tôi nhìn những con rùa con mới nở cố sức bò ra phía biển, vượt qua mấy mét trên bãi cát mà không hề có chút do dự. Chúng tôi hiểu rằng phần lớn những con rùa con đó sẽ chết sau vài giờ tới, khi làm mồi cho những kẻ phàm ăn, trong đó có cá mập. Những con hòa nhập được vào đại dương bao la sau đó sẽ có nhiều cơ hội sống sót. Thống kê cho thấy trong tất cả những con sinh ra trong một đêm chỉ có một con sống đến lúc trưởng thành.

“Cuộc sống là trò may rủi”, Claudia nói với vẻ không vui.

“Cuộc sống là một chu trình vĩnh cửu”, chồng chị ta đáp lại. “Chỉ những kẻ nhanh mạnh nhất mới sống sót. Những kẻ chậm chạp, lờ đờ hoặc tự bằng lòng sẽ chết. Phải luôn đi đầu.”

Tôi hơi bị choáng, vừa do thông tin về những con rùa mới nở, vừa do điều vừa nghe. Điều đó không bình thường: chỉ bằng vài từ, người ta có thể tóm tắt toàn bộ quan điểm sống. Góc cạnh cuối cùng của điều bí ẩn Hà Lan đã lộ rõ, cho thấy ý nghĩa của tất cả những cảnh mà tôi đã chứng kiến. Bây giờ tôi đã hiểu tại sao Claudia chấp nhận vai trò nội trợ mà chồng chị ta áp đặt: chính xác là chị ta đã rút phải số rủi ro. Khi đã thất bại thì phải chịu thất bại, chẳng làm gì được. Người ta không thể tranh cãi khi thua bạc hay xổ số. Mọi việc diễn ra như phải diễn ra, muốn thay đổi cũng chẳng được. Về Hans, tôi hiểu rõ hơn anh ta hành động vì động cơ gì và vì sao anh ta không thể tỏ ra hòa hợp ở nwhngx thời điểm nút.

Tôi tự hỏi liệu bọn rùa có định kiến về cuộc sống hay không, hay là ngược lại, chính việc không có định kiến cho phép chúng sống hài hòa hơn với chính bản thân mình.

Tôi nhìn những con rùa sơ sinh đang bình thản hướng tới yếu tố tự nhiên của chúng, và thầm hỏi: con nào sẽ sống sót và quay lại đây sau 50 năm, và đến lượt nó, nó sẽ đủ trưởng thành để đem đến sự sống mới.

 

MƯỜI

Việc trở về bãi của tôi diễn ra thuận lợi, và tôi thực hiện nghi lễ tắm đêm trong khi tự hỏi hành trình của tôi sẽ ra sao nếu tôi là con rùa mới nở. Bản chất vốn hay dao động, tôi tự hỏi liệu thành ngữ “bị giày vò bởi sự nghi ngờ” có nghĩa gì đặc biệt trong ngữ cảnh này hay không.

Sáng hôm sau, tôi dậy khá muộn sau một đêm quá ngắn. Tôi muốn có thời gian để thu thập những thông tin mà ông lang yêu cầu trước khi gặp lại ông ấy, càng nhanh càng tốt.

Nhờ sách hướng dẫn du lịch, tôi xác định được vị trí của khách sạn gần nhất và lên xe. Hai mươi phút sau, tôi đi qua trước cổng khách sạn Amankila mà chắc chắn là một trong những khách sạn đẹp nhất và kín đáo nhất trên thế giới. Tôi quả quyết lao qua cổng vườn tới buồng lái chiếc xe thuê hạng một, và ý thức được một cách rõ ràng về sự bất lịch sự của mình mà chủ yếu do quá dơ vì mười lăm ngày lặn lội trên những con đường đầy bụi trên đảo. Tôi cho xe đi chầm chậm theo lối đi đầy hoa hai bên, cố gắng giảm hết cỡ tiếng ồn, rồi đỗ xe thật xa phòng lễ tân. Tôi đi theo một lối nhỏ ngoằn ngoèo dẫn tới một khu vườn với phong cảnh tự nhiên tao nhã. Trên một bãi cỏ viền đá chung quanh, tôi thấy hai nhân viên đang quỳ trên cỏ. Mỗi người cầm một cái kéo, họ đang cần mẫn xén cỏ. Ở một nơi kiểu này, không được phép dùng máy cắt cỏ; nó sẽ phá vỡ sự yên tĩnh của mọi người. Tôi lưỡng lự một lát để định hướng, lấy dáng đi tự nhiên, cố tạo ra vẻ bình thản của người ở trong khách sạn. Thật khó để giữ vẻ như vậy khi cảnh đẹp của nơi này đập vào mắt tôi làm tôi gần như quên mọi thứ. Một dãy nhà trệt hầu như không có tường ngăn được xây cất theo lối hiện đại bằng những vật liệu chọn lọc, gỗ hiếm, đá đẹp, làm mãn nhãn bằng gam màu kem, và mở cửa nhìn ra biển. Phía trước là ba bể bơi đựng nước ở ba mức khác nhau. Bể thứ nhất đầy đến tận mép, và nước chảy rất êm từ đó qua bể thứ hai với mức nước thấp hơn, rồi chảy sang bể thứ ba. Nhìn theo đường trục ra xa, thấy mặt nước biển bao la với màu xanh giống như trong các bể. Những chiếc bể này được phối hợp để tạo cảnh tuyệt vời đến mức có cảm giác như chính nước biển được pha màu để giống như nước trong bể. Phía trên là màu xanh vô biên của bầu trời. Dừa và vài loài cây nhiệt đới khác được trồng một cách hợp lý càng tôn thêm vẻ đẹp và sự hoàn thiện của cảnh quan. Tôi có cảm giác rằng không gì có thể thêm vào mà không làm hỏng sự hoàn thiện này. Một sự yên bình tuyệt đối, không thấy bóng người. Rõ ràng khách trọ thích sự kín đáo của những bể bơi riêng có ngay trước mỗi phòng, trong những khu vườn xinh đẹp che khuất tầm nhìn. Chỉ vài người phục vụ mặc áo quần vải thô có màu giống như tường nhà thỉnh thoảng lặng lẽ xuất hiện, lướt qua như những cái bóng giữa những hàng cột nhà. Tôi đi về phía phòng lễ tân, càng lúc càng thấy không thoải mái. Tôi được tiếp bởi một người lịch sự, cũng mặc đồ bằng vải thô, tươi cười và nhã nhặn.

Tôi làm ra vẻ tự tin.

“Chào ông, tôi muốn dùng một màn hình kết nối Internet, thưa ông.”

“Ông ở khách sạn này ạ?”

Sao ông ta lại hỏi tôi thế nhỉ? Ông ta thừa biết là không phải. Tôi đọc thấy trong cuốn sách hướng dẫn du lịch rằng khách sạn này có hai trăm người mà chỉ phục vụ bảy mươi khách. Những người nhận lương ở đây luôn nhớ thuộc lòng tên của mọi vị khách mà họ phục vụ. “Ông Smith, ông thấy sao ạ?” “Hôm nay trời đẹp đấy, phải không, bà Greene?” “Trông ngài phong độ quá, ngài King.”

“À không, tôi ở bên Legian, tôi nói bừa tên một khách sạn khác trên đảo. Tôi đang tham quan phương Đông, và tôi rất cần kết nối Internet ít phút.”

Tôi tin rằng kiểu gì thì ông ấy cũng không đuổi khéo một khách phương Tây.

“Xin đi theo tôi, thưa ông.”

Ông ta dẫn tôi vào một gian phòng sang trọng có máy tính đã bật sẵn để chờ tôi. Khoang để máy tính rộng gần như căn hộ mà tôi sống một năm vừa qua, được vây kín, nền nhà trải thảm dày, tường ốp loại gỗ vùng nhiệt đới, cánh cửa ghép từ những tấm kính vuông với tay nắm chạm trổ có giá phải cỡ bằng chiếc vé máy bay của tôi.

Tôi cần ít nhất 15 phút để lấy thông tin mà tôi muốn, trong khi lục tìm những danh mục tìm kiếm.

Những điều tôi đọc được khẳng định điều mà ông lang đã nói. Các phòng thí nghiệm dược học đã mời được những người tự nguyện, cùng mắc một chứng bệnh đến, rồi phát cho một nửa trong số đó loại thuốc để trị bệnh này, và cho một nửa còn lại một thứ placebo, tức là một chất trung tính vô tác dụng, nhưng nhìn giống như loại thuốc kia. Những người bệnh này không biết rằng người ta phát cho họ placebo; họ tin rằng đó là thứ thuốc trị bệnh của họ. Những người nghiên cứu sau đó đo các kết quả nhận được trong từng nhóm bệnh nhân. Để chứng minh được hiệu quả của loại thuốc của họ thì kết quả đối với những người uống thuốc phải vượt hẳn so với kết quả đo được đối với những người uống placebo.

Tôi cũng phát hiện ra rằng placebo cũng có tác động đối với bệnh, một điều hết sức bất ngờ, vì bệnh thì thật, còn placebo thì vô tác dụng. Như vậy, cái thực sự tác động ở đây là yếu tố tâm lý: bệnh nhân tin rằng họ được uống thuốc, do đó tin rằng nó có tác dụng trị liệu. Và trong một số trường hợp, điều đó là đủ để chữa bệnh hiệu quả. Điều tác động mạnh lên tôi là số những trường hợp mà niềm tin là đủ để chữa được khỏi bệnh: khoảng 30%! Ngay cả những cơn đau cũng biến mất. Một placebo có tác dụng giống như morphine trong 54% các trường hợp! Bệnh nhân bị đau, và sau khi họ uống một hỗn hợp đường với một chất trung tính mà tôi chẳng biết là thứ gì, cơn đau biến mất. Chỉ cần họ tin.

Tôi tiếp tục tìm những con số liên quan đến các bệnh khác nhau. Rồi tôi bỗng thấy một con số làm tôi như chết cứng tại chỗ, các ngón tay như bị gắn chặt vào bàn phím: người ta cho nhiều người bệnh dùng một placebo như một hóa chất trị liệu, và trong số họ có đến 33% bị rụng hết tóc. Tôi há hốc mồm trước màn hình. Những người bệnh này chỉ nuốt một mẩu đường trong khi tưởng rằng đó là loại hóa dược có tác dụng phụ là làm rụng tóc, và họ thực sự bị rụng tóc! Mà, trời ạ, họ không hề uống thứ gì khác ngoài một cục đường! Tôi kinh ngạc, sửng sốt vì sức mạnh của niềm tin mà ông thầy lang đã khẳng định. Điều đó đúng là khó tin. Tuy nhiên, các con số là thực, được công bố bởi một phòng thí nghiệm nghiêm túc, có uy tín vì những loại hóa dược của nó. Một lúc sau, tôi cảm thấy bực bội: vì sao người ta không công bố những con số này trong công chúng rộng rãi hơn? Sao không đưa lên truyền thông đại chúng? Điều đó sẽ mở ra những cuộc tranh luận mà cuối cùng thì sẽ làm cho giới khoa học quan tâm. Nếu các hiện tượng tâm lý gây ra tác động đối với cơ thể và người bệnh thì sao lại tập trung nghiên cứu để sản xuất những loại thuốc vừa đắt vừa không loại trừ được tác dụng phụ? Tại sao không quan tâm trước hết đến những phương cách chữa trị bằng tác động tâm lý?

Tôi rời khoang máy tính và vẫn để màn hình ở trang có các dữ liệu này. Biết đâu người tiếp theo vào đây sẽ là nhân vật quan trọng của một tập đoàn truyền thông? Có gì cấm mơ mộng đâu!

Tôi chào lấy lệ nhân viên lễ tân khi đi ra, và tin chắc rằng không phải trả tiền kết nối: ở những nơi như thế này, người ta ít nhiều tin vào những người lui tới.

NTS

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s