NGƯỜI MONG HẠNH PHÚC 03 Laurent Gounelle

FRANCENguyên tác: L’homme qui voulait être heureux, NGUYỄN TRẦN SÂM dịch từ nguyên bản tiếng Pháp.

MƯỜI MỘT

“Chào chị! Tôi nói với người phụ nữ gặp tôi như mọi khi.”

Từ Amankila đến đây, tôi đi mất khoảng một giờ rưỡi. Quang cảnh đơn sơ của lán và vườn lập tức đưa tôi vào trạng thái lâng lâng dễ chịu, hơi giống như khi người ta mở một hộp kem chống nắng dùng trong mùa hè trước ra, và hương thơm của nó trong phút chốc đưa bạn đến nơi nghỉ hè năm ngoái.

“Thầy Samtyang hôm nay đi vắng.”

“Sao cơ?”

Tôi như muốn sụp xuống đất. Đi vắng? Đối với tôi, ông ấy và nơi này gắn liền với nhau đến mức tôi thấy sợ khi nghĩ đến việc ông ấy đi khỏi đây.

“Thầy vắng nhà, nhưng chắc là sẽ về chứ? Tôi sẽ đợi thầy.”

“Không, thầy bảo tôi đưa cho anh cái này”, chị ta nói và chìa cho tôi tờ giấy màu be gấp tư. 

Ông ấy để lại lời nhắn cho tôi? Nếu ông ấy muốn giải thích lý do vắng nhà thì sao không dặn miệng người phụ nữ trẻ này để chị ta nói lại với tôi? Tôi mở tờ giấy và đọc một mạch mà không nhớ rằng chị kia đang ở đó:

Trước cuộc gặp tới:

Hãy viết lại tất cả những gì cản trở anh thực hiện ước mơ về một cuộc sống hạnh phúc.

Hãy trèo lên núi Skouwo.

Samtyang

Trèo lên núi Skouwo?! Nhưng phải mất ít nhất bốn năm giờ mới trèo lên tới nơi được! Và dưới trời nóng nực! Sao không phải là Annapurna?

Người phụ nữ mỉm cười nhìn tôi và tỏ ra không hề quan tâm đến sự lo lắng của tôi.

“Thầy có nói gì với chị khi đưa mẩu giấy này không? Thầy có bình luận thêm gì không?” Tôi hỏi.

“Không có gì đặc biệt. Thầy chỉ bảo tôi đưa cho anh và nói thêm là anh sẽ tự hiểu.”

Tôi chỉ hiểu là ông không có ở đây để tiếp tôi, trong khi tôi chỉ còn không quá ba ngày trước khi đi khỏi đây. Tôi vô cùng thất vọng.

“Theo chị thì mai thầy có về không?”

“Chắc chắn, chị ta trả lời bằng giọng tỏ ra không biết gì.”

“Nếu chị thấy thầy thì xin nói với thầy là sáng mai tôi qua, và tôi thực sự hy vọng ở thầy. Tôi dứt khoát phải gặp thầy.”

Tôi cáo lui và lê bước trở lại xe.

Tôi lái xe về phía núi Skouwo ở phía bắc đảo, trong lòng không phấn chấn. Không được chậm trễ, nếu muốn trèo lên đó và xuống trước khi trời tối.

Đi được mấy cây số, tôi thấy một bé trai đang đi bộ bên lề đường. Tám hay mười tuổi chi đó, tôi không dám chắc: tôi không giỏi ước lượng tuổi của trẻ em. Vừa thấy xe của tôi, cậu bé dừng lại và giơ ngón tay cái. Tôi không có lý do gì để không dừng xe. Cậu bé trèo lên xe và nhoẻn cười vui vẻ.

“Cháu tên gì?”

“Ketut.”

Không có gì đáng ngạc nhiên: người Bali chỉ có bốn cái tên, ít nhất là trong danh sách những cái tên phổ biến nhất. Nếu gặp một người không quen thì có một phần tư khả năng tên người đó là Ketut.

“Hôm nay cháu không đi học?”

“Không, hôm nay thì không.”

“Cháu đến chỗ cha mẹ?”

“Bố mẹ cháu chết cả rồi.”

Tôi nín lặng, tự trách mình vô ý, nhưng thấy cậu bé vẫn mỉm cười.

“Họ chết trong một tai nạn ô-tô vào tuần trước”, cậu bé nói thêm và vẫn mỉm cười.

Tôi khá bối rối, mặc dù biết rằng người Bali quan niệm về cái chết không giống chúng ta. Niềm tin vào luân hồi làm cho cái chết có một ý nghĩa khác với cách nghĩ của chúng ta. Đối với họ, điều đó không thật đáng buồn. Tôi nhìn cậu bé này mỉm cười và lần đầu tiên tôi tự nhủ rằng tôi thích được làm người Bali và được thuộc về nền văn hóa này, nền văn hóa làm hình thành trong tôi những định kiến tốt. Một hồi lâu, tôi tự hỏi cuộc sống của tôi sẽ thay đổi ra sao khi tôi quan niệm về cái chết khác đi.

Tôi cho cậu bé xuống xe ở làng tiếp theo, và tiếp tục hành trình.

Không gì có thể làm dịu được cơn nắng nóng. Việc trèo lên núi Skouwo được báo hiệu sẽ rất vất vả. Tôi bắt đầu tự hỏi liệu tôi có đủ can đảm để làm việc đó hay không. Tôi thực sự không muốn, và không thấy rằng việc đó thực sự có ích cho tôi. Sao ông ấy lại giao cho tôi nhiệm vụ này? Sẽ đến đâu? Nó có liên quan gì đến những câu chuyện của chúng tôi, liên quan gì đến việc tìm kiếm một cuộc sống hạnh phúc? Không hề. Thế thì nó tốt ở chỗ nào? Hơn nữa, tôi còn một nhiệm vụ khác, thích đáng hơn. Tốt nhất là tôi nên thực hiện nhiệm vụ đó.

Càng lên cao trên ngọn Skouwo, tôi càng thấy thêm lý do để không lên đỉnh. Tôi không cần phải tự dối mình, chính ông thầy đã nói thế. Phải, sự thật là tôi không hề có ý muốn leo núi. Tôi không cần phải xét đoán bằng những lý giải giả duy lý. Tôi sẽ nói sự thật với ông thầy vào ngày mai. Và nếu ông khuyên tôi khám phá một cái gì đó trên núi, ông phải nói với tôi đó là cái gì, và đối với tôi thế là đủ. Tôi có khả năng hiểu được điều ông ấy giải thích.

Quyết định như vậy, tôi chợt thấy nhẹ cả người, giống như trút được gánh nặng. Tôi đổi hướng ở lối rẽ tiếp theo và đi thẳng về hướng đông, tới bãi tắm của tôi!

Tôi về đến nơi vào cuối chiều. Tôi cất xe và thấy Claudia đang đi về phía căn nhà của tôi.

“Chào chị, Claudia. Trời đẹp quá, phải không?”

“Phải, trời đẹp thật, nhưng ngày mai sẽ phải xấu để bù”, chị nói và quay đi.

Những câu nói vu vơ mà tôi luôn nghe mà không nghĩ ngợi gì bây giờ đang lởn vởn bên tai tôi. Cái thế giới của Claudia khá là buồn, và những điều tốt đẹp vì thế bị nhìn sai lệch. Có lẽ chị ta tin rằng mình không xứng đáng với chúng, nên khi gặp được một điều may thì chị ta luôn nghĩ là sớm muộn gì cũng phải trả giá.

Với quyển sổ và cây bút chì trong tay, tôi ngồi trên cát, tựa lưng vào gốc cây dừa để tận dụng bóng mát của nó. Bãi tắm vắng tanh; chỉ có một chiếc thuyền câu trên mặt biển thênh thang, với một người duy nhất trong khoảng giữa tôi và chân trời xa.

Tôi bắt đầu ghi lại tất cả những gì hiện lên trong tâm trí tôi, chuyện đêm qua, trong nhà hàng. Tôi có ấn tượng như đang viết kinh về hạnh phúc. Nếu tôi chết, hậu duệ của tôi có thể đọc biết về cuộc sống mà tôi muốn có.

Cái gì cản trở tôi sống một cuộc đời như mong muốn? Khó mà trả lời được tổng thể. Tôi cần phải đi sâu vào chi tiết. Tôi soi lại từng sự kiện nhớ được, và tôi thấy dễ nhận ra những lý do làm cho việc hiện thực hóa các ước mơ, các dự định, việc biến những ý tưởng thành kết quả công việc, và cuối cùng là việc đạt tới hạnh phúc, trở thành bất khả.

Tôi mất khoảng một giờ để viết lại, và khi nhìn màn đêm buông xuống mặt biển, tôi thấy não lòng. Tôi, cũng như tất cả mọi người, quả thật có những thời khắc hạnh phúc, nhưng lại có cảm giác là tôi không được sinh ra để sống thật sự hạnh phúc. Hạnh phúc có lẽ là dành cho một số người nào đó được chọn ra, mà tôi không thuộc số đó.

 

MƯỜI HAI

Dậy sớm cuối cùng đã trở thành thói quen của tôi. Tôi thật sự muốn gặp ông lang ngày hôm nay, và hơi ngại vì lý do của việc hôm qua ông ấy vắng nhà. Tôi chuẩn bị nhanh gọn rồi lao vào xe, không quên mang theo những ghi chép hôm qua. Tôi tăng tốc hơi quá, và chợt thấy khôi hài khi nghĩ rằng việc cán chết một vài người đi bộ sẽ tạo cơ hội cho họ tái sinh sớm hơn dự tính.

Tôi thấy mừng khi nghe câu “Xin đi theo tôi” khi tôi đứng trước thiếu phụ ở cổng vào lán. Tôi trấn tĩnh, hít một hơi dài thứ không khí mang hương thơm của khu vườn, và với niềm vui thực sự, tôi cất tiếng chào thầy Samtyang khi gặp lại.

“Con rất tiếc không gặp được thầy hôm qua”, tôi nói.

“Anh có tiến bộ gì trong nhận thức về cuộc sống của anh không?”

“Có ạ.”

“Anh thấy đấy: anh có cần đến tôi đâu”, ông ấy mỉm cười nói.

Chúng tôi ngồi xuống nền lán, trên chiếu, như mọi lần.

“Thế nào, anh có tìm được số liệu thú vị nào về placebo không?” Ông hỏi tôi.

“Có, và những điều đọc được làm con ngạc nhiên”, tôi thú nhận.

Tôi kể cho ông nghe kết quả tìm kiếm của tôi ngày hôm qua ở Amankila:

“Con đã nghĩ là con sẽ tìm được bằng chứng về tác động của placebo đối với những bệnh mà yếu tố tâm lý đóng một vai trò hiển nhiên, chẳng hạn tình trạng có những giấc mơ lộn xộn. Nhưng con đã thực sự bị bất ngờ khi phát hiện ra tác dụng của chúng đối với những loại bệnh “thực”, thậm chí cả những tác động trực tiếp lên cơ thể. Cái đó thực sự ấn tượng.” Tôi nói.

“Phải, đúng thế.”

“Con tự nhủ rằng thật là sai lầm khi người ta không đưa các số liệu nghiên cứu đó ra cho mọi người thấy cách dùng định kiến để trị bệnh.”

“Phải, nhất là cái đó đâu phải chỉ của ngày hôm qua: từ hai nghìn năm trước Jesus đã dùng nó rồi.”

“Sao cơ?”

“Người ta không bao giờ nói đến, nhưng Jesus đã dựa vào niềm tin của dân chúng để trị bệnh cho họ.”

“Thầy nói đùa thế chứ? Thầy định viết Mã da Vinci 2?”

Không trả lời, ông già cúi xuống một cái rương bằng gỗ long não, và trong sự ngạc nhiên của tôi, ông rút ra một cuốn kinh thánh.

“Anh là người Ki Tô giáo?”

“Không, nhưng con không kiêng việc quan tâm đến kinh thánh.”

Ông ấy nhẩn nha lật tìm, rồi đọc cho tôi nghe một đoạn:

“Jesus trả lời những người mù giúp Ngài chữa bệnh (Kinh Matthieu 9, 28): “Jesus nói với họ: – Các con có tin rằng ta làm được việc đó không? – Có, thưa Chúa, họ trả lời Ngài. Khi đó, Ngài chạm vào mắt họ và nói: – Ta làm việc đó vì đức tin của các con.””

“Ông ấy đã nói thế thật à?”

“Anh tự đọc đi, ông già nói và đưa cuốn kinh thánh đang mở cho tôi. Hãy chú ý rằng Ngài không nói: “Ta, đức Jesus toàn năng, ta có phép màu để chữa trị cho các con.” Không, Ngài yêu cầu họ phải tin rằng Ngài có phép màu đó, và Ngài bảo họ rằng họ sẽ nhận được điều họ tin. Điều này hoàn toàn khác.”

Tôi không nói gì. Tôi đọc lại đoạn kinh Phúc Âm của Matthieu. Thật khó tin. Làm thế nào mà Jesus biết được cái mà ở thế kỷ XXI vẫn hầu như không ai biết? Làm thế nào mà ông ấy vào lúc đó đã hiểu được sự vận hành sâu bên trong của con người? Tôi phải thừa nhận rằng tôi thực sự chấn động vì điều tôi vừa khám phá.

Giọng nói của ông thầy đưa tôi ra khỏi luồng suy nghĩ của mình.

“Một nhà nghiên cứu Mỹ mới đây đã tiến hành phỏng vấn về tác dụng của mọi phương pháp được dùng trong thời đại chúng ta để chữa trị ung thư. Ông ta quan tâm đến các kết quả đo được ở một nhóm bệnh nhân. Các kết quả này khá khác thường nên đã làm ông ta đẩy việc nghiên cứu đi xa hơn. Cuối cùng thì ông ta chứng minh được rằng trong nhóm này những người được chữa trị bằng các phương pháp khác nhau thì nhận được kết quả cũng rất khác nhau; tuy nhiên, dù sao họ cũng có một điểm chung.”

“Là gì ạ?”

“Tất cả những người được chữa trị đều phải chấp nhận một điều kiện tiên quyết là họ phải tuyệt đối tin rằng họ sẽ được chữa khỏi. Họ hoàn toàn tin vào các thầy thuốc và vào việc chọn phương pháp chữa trị. Đối với họ, việc chữa trị diễn ra thuận lợi.”

“Như vậy là cách chữa không quan trọng lắm, quan trọng là phải tin?”

“Ở mức độ nào đó.”

“Thật điên rồ. Ung thư không phải bệnh thân-tâm. Và người ta có thể quan sát thấy sự hiện diện của nó trong cơ thể theo cách không thể chối cãi được.”

“Người ta vẫn chưa biết hết các nguyên nhân dẫn đến ung thư. Nó có vẻ có cả nguồn gốc di truyền, các yếu tố môi trường, sự ô nhiễm, chế độ ăn uống, v.v. Nhưng có lẽ trong một số trường hợp còn có cả yếu tố tâm lý mà chưa được đánh giá đúng.”

“Như thế nào?”

“Cách đây mấy năm có một sự kiện gây chấn động mà người ta chưa giải thích được.”

“Là gì ạ?”

“Một phụ nữ có dấu hiệu ung thư máu, bệnh bạch cầu, được đưa đến cấp cứu tại một bệnh viện ở Mỹ. Người ta lập tức lấy mẫu máu của bà ta và thấy đúng công thức máu đặc trưng của người bị bệnh bạch cầu. Biên bản hội chẩn của bệnh viện quyết định xét nghiệm máu lần hai để khẳng định cho chắc chắn. Và lần thử máu thứ hai cho công thức máu hoàn toàn bình thường. Quá ngạc nhiên, các thầy thuốc yếu cầu thử máu lần ba. Và kết quả lại giống như lần phân tích đầu tiên. Các thầy thuốc cho rằng lần thử thứ hai không chính xác và cho kết quả sai. Để khỏi băn khoăn, họ ra lệnh lấy máu lần thứ tư. Thật lạ là lần này lại khẳng định kết quả lần hai! Thật kỳ quái và khó hiểu. Sau đó, họ được biết rằng người bệnh này bị chứng nhị phân nhân cách. Bà ta thay đổi tính cách liên tục. Và người ta tìm ra rằng sự thay đổi tính cách này xảy ra giữa các lần lấy mẫu máu. Một trong hai tính cách đó mang nỗi sợ ung thư, còn tính cách kia thì không.”

“Nhưng người ta làm với cùng một con người!”

“Đúng thế.”

“Quái quỷ!”

“Đó là một điều bí ẩn. Chưa có ai giải thích được.”

Tôi bị tác động mạnh, và rất hứng thú với ý nghĩ là đến khi mà người ta tiến hành nghiên cứu theo hướng này, người ta có thể mở rộng vô hạn lĩnh vực nghiên cứu y học.

“Để kết thúc câu chuyện về sức khỏe, ông thầy nói, nên biết rằng những người tin vào Thượng Đế và thực hành nghi lễ tôn giáo một cách đều đặn, bất kể đó là tôn giáo gì, có tuổi thọ trung bình cao hơn 29% so với những người không tin.

“Thầy biết không, bây giờ thì thầy không làm con ngạc nhiên nữa.”

“Như tôi nói với anh lần vừa rồi, người ta không thể xét đoán về niềm tin, nhưng người ta có thể quan tâm đến hiệu quả của nó. Trên thực tế, không gì có thể chứng minh sự tồn tại của Thượng Đế, nhưng người ta biết rằng một trong những kết quả của niềm tin vào Thượng Đế là kéo dài được tuổi thọ.”

“Thôi được, con sẽ trở lại nhà thờ từ chủ nhật này.”

“Tôi không tin rằng điều đó có tác dụng: niềm tin mới là cái cần thiết, chứ không phải là cách ứng xử, mặc dù, như giới tu hành biết rõ, nghi lễ sẽ củng cố đức tin… À mà anh cái giáo huy gì vậy?”

“Cái này ạ? Tôi nói và chỉ vào cái hình chữ thập đeo trên dây quanh cổ.”

“Phải.”

“Cha con cho con khi ông còn sống, “để mang hạnh phúc đến cho con”, ông ấy nói vậy. Con rất quý nó vì nó do cha con tặng.”

“Rất nhiều người tin như thế vào cái bùa họ đeo đến mức họ không chấp nhận đi đâu mà không mang theo. Tuy vậy, tôi không khuyên làm thế…”

Hôm nay tôi cũng lại được đãi món kẹo dính. Với nụ cười gượng, tôi nói để tránh làm mếch lòng chủ nhà khi nhìn thấy thiếu phụ bưng khay lại:

“Thầy và chị thật chu đáo, nhưng tôi không muốn lạm dụng lòng hiếu khách.”

“Được đãi anh thứ này là niềm vui của chúng tôi đấy”, thiếu phụ trả lời trong khi tôi rất lúng túng.

Tôi miễn cưỡng chấp nhận.

“Thôi được, thế thì tôi chỉ dùng một chút thôi, vì sáng nay tôi ăn quá nhiều rồi.”

Thiếu phụ chìa cho tôi một đĩa, đưa đĩa khác cho thầy Samtyang, rồi biến mất. Ông thầy nhận thấy sự bối rối của tôi; ông nở nụ cười thật rộng. Ông đang rất vui.

“Sao anh lại nói dối tôi lần nữa?”

Tôi không định chối và nói dối tiếp. Làm như thế chẳng ích gì: con người này đọc được ý nghĩ của tôi.

“Để khỏi làm thầy mếch lòng khi nói rằng con không thích món này và không thích ăn theo kiểu người Bali để làm dính tay…”

“Nếu tôi không hiểu được điều này và nếu tôi mếch lòng thì đó là vấn đề của tôi, không phải của anh.”

“Sao cơ?”

“Một thông báo không thể làm mếch lòng, mà là cách thông báo, cách diễn đạt. Nếu người ta lịch sự cảm ơn người khác vì một ý định tốt thì cái đó không làm mếch lòng. Còn nếu không, nếu người kia không bằng lòng, thì đó là vấn đề của người đó, không phải của anh.”

“Thầy thấy đó, con nghĩ con đã làm thế vì như thế dễ hơn là nói ra sự thật.”

“Thế đấy, anh đã nói dối một cách lịch sự. Khi anh không nói sự thật cho người khác, anh làm người ta có xu hướng tìm cách giải thích lý do, và điều đó làm anh phải tiếp tục nói dối. Tuy nhiên, cái đó đã qua rồi. Ban đầu, anh thấy mình bị ép buộc phải làm một việc trái ý mình, như ăn một thứ mà anh không thích… Vì thế anh bị khổ sở kép.”

“Khổ sở kép?”

“Phải, vì nói dối trước hết là không tốt cho bản thân. Có phần giống như phải sinh ra năng lượng tiêu cực mà người ta tích góp được trong người. Hãy biết một điều: anh đang là người tự do, và bỗng nhiên cảm thấy không nhẹ nhàng.”

Nhẹ nhàng là một từ hay, một điều hứa hẹn đáng mong đợi, khi người ta đang ngán ngẩm vì một thứ đồ ăn nhão và làm nặng bụng.

“Để nói sự thật, hôm qua con đã không làm theo lời khuyên của thầy: con không trèo lên núi Skouwo.”

“Tôi không ngạc nhiên.”

“Con không có hứng nên không làm.”

“Và nói ra sự thật là tốt, phải thế không?”

“Con thấy như thế tốt hơn. Đó là một cảm giác dễ chịu.”

“Rất tốt. Thế anh có thực hiện những nhiệm vụ khác mà tôi giao không?”

“Có ạ, con đã ghi lại cách hiểu về cuộc sống lý tưởng của con trên một tờ giấy, và nhận xét về mọi thứ cản trở con thực hiện nó.”

Tôi lấy tờ giấy ra và đọc cho ông nghe những mô tả của tôi về cuộc sống mà tôi mơ ước. Ông im lặng lắng nghe, và tôi thấy thật dễ chịu khi có một người sẵn sàng chú ý đến những ước muốn của tôi, không bình luận, không ngăn cản, không đề xuất một điều mà người đó cho là tốt hơn. Tôi đã từng nghe những người phá hoại giấc mơ, họ nói: “Nếu tôi là anh, tôi sẽ…”, hoặc thậm chí tệ hơn, họ nói trước những kết quả tiêu cực từ những ý tưởng của bạn: “Nếu anh làm thế thì sẽ…”

Khi tôi dừng nói, ông già im lặng một lúc rồi hỏi:

“Vì sao anh biết rằng một cuộc đời như vậy sẽ làm anh hạnh phúc?”

“Con cảm thấy vậy. Con đã nhiều lần hình dung, và lần nào cũng thấy đúng một cảm giác, đúng một sự thỏa mãn. Mà trước hết là khi hình dung ra mình sống như thế thì con thấy không có ham muốn nào khác.”

“Và khi anh thấy mình sống cuộc đời như vậy, có điều gì anh thấy kém so với cuộc sống như bây giờ không?”

“Không, tuyệt đối không.”

“Tuyệt. Trước khi đi vào chi tiết, tôi thực sự muốn biết cảm giác của anh về lý do vì sao cuộc sống mà anh mô tả thực sự khác với cuộc sống hiện tại. Cái gì có thể làm cho con đường anh đang đi khác về tổng thể với con đường mà anh muốn đi?”

“Con cảm thấy nói chung con không có nhiều cơ hội. Để thành đạt, cần có vận may, mà con thì không thuộc loại may mắn…”

“Anh vừa nói anh phi tôn giáo, ông già cười nói, nhưng anh rất mê tín! Tôi thì không trông chờ vào cơ hội. Tôi cho rằng mỗi người trong đời mình đều gặp rất nhiều cơ hội đủ loại, và người này biết nắm lấy chúng, tận dụng chúng, người khác thì không.”

“Có thể…”

“Có một thí nghiệm rất hay, được thực hiện ở châu Âu, nếu trí nhớ của tôi còn ổn. Nó yêu cầu những người tình nguyện, trong đó một số tự coi là mình may mắn, còn những người khác thì không, tham gia một cuộc thử nghiệm. Mỗi người được giao một cuốn tạp chí, rồi người ta cho họ ít phút để đếm chính xác số ảnh in bên trong. Sau một số trang, ở gần giữa tạp chí, người ta bỏ vào một tờ giấy ghi những chữ rất lớn: “Không cần đếm tiếp làm gì, trong tạp chí này có 46 ảnh”. Những người tự coi là mình may mắn đều dừng lại khi đọc câu này. Họ gấp tạp chí lại và nói với nhà nghiên cứu: “Có 46 ảnh”. Theo anh thì những người tự cho là mình kém may mắn sẽ làm gì?”

“Con không biết… Con cho là họ nghĩ rằng chắc đó là một chiêu lừa, và họ tiếp tục đếm đến cùng cho chắc chắn, trước khi đưa ra con số?”

“Không. Đúng là họ tiếp tục đếm đến cuối tạp chí, nhưng khi người ta hỏi họ sao không đọc con số trên tờ giấy bên trong, họ hỏi lại: “Tờ giấy? Tờ giấy nào?” Không hề có ai thấy tờ giấy đó!”

“Hay thật, thực ra thì…”

“Phải, tôi tin rằng anh cũng có nhiều vận may như mọi người khác, nhưng chưa được chuẩn bị để chú ý đến các cơ hội mà anh có.”

“Có thể.”

Tôi tự hỏi liệu trong đời tôi đã bỏ lỡ những cơ hội nào, và cái nào có thể phát huy nếu tôi nhìn ra và tận dụng nó.

“Thôi được, bây giờ ta xem thử những khía cạnh khó trong giấc mơ của anh.”

“Yếu tố quan trọng nhất là tạo dựng một studio ảnh cưới của riêng con.”

“Rất tốt, thế thì hãy nói xem cái gì cản trở anh?”

“Thực ra thì con có ít khả năng, mặc dù dự định này rất hấp dẫn đối với con.”

“Vì sao anh biết là anh thiếu khả năng?”

“Con cảm thấy thế, nó rất khác với nghề con hiện đang làm, cái nghề mà con đã làm quen. Có lẽ điều đó cũng quan trọng, nên con đã không quyết định thay đổi.”

“Nếu anh chỉ dựa vào cảm giác thì anh không có cách nào biết được đó có phải thực tế như vậy hay chỉ là định kiến sai lầm.”

“Có thể.”

“Anh có biết người ta rơi vào tình trạng tin rằng mình không có khả năng làm gì đó như thế nào không?”

“Không ạ.”

“Đó là khi có một câu hỏi hình thành một cách vô thức mà người ta không trả lời được.”

“Con chưa hiểu.”

“Ví dụ, nếu anh không trả lời được câu hỏi: “Mình làm thế nào để thực hiện được dự định này?”, khi đó anh có nguy cơ sẽ nghĩ: “Mình không thể làm được việc này”, và đó là một định kiến sai lầm. Và bây giờ tôi nêu cho anh một câu hỏi: anh nghĩ mình sẽ thực hiện dự định này thế nào?”

“Con không biết.”

“Anh thấy đấy. Chừng nào anh chưa trả lời được câu hỏi này, anh vẫn còn có cảm giác rằng anh không có khả năng thực hiện ước mơ.”

“Con hiểu.”

“Để trả lời, anh cần xem xét vấn đề một cách chi tiết trước đã, vì khi anh nhìn nhận dự định một cách phiến diện, anh sẽ thấy nó có vẻ mờ mịt và vì thế bất khả thi.”

“Đúng thế, con hình dung được phần nào, nhưng không có kế hoạch hành động cụ thể. Khi mơ đến kết quả thì thấy nững cảm xúc tích cực, nhưng khi chuẩn bị hành động lại thấy những cảm xúc tiêu cực…”

“Thế đấy. Anh hãy cụ thể hóa một cách chính xác mọi việc cần làm, sau đó ghi lại từng việc mà anh đã biết cách làm cũng như những việc mà anh chưa biết cách thực hiện. Điều đó là đủ để sau này biết cách bổ sung được những kiến thức mà anh còn thiếu.”

“Có không ít những thứ mà con cần tìm hiểu và cho đến giờ còn xa lạ với con, ví dụ như cách quản lý một xí nghiệp nhỏ, hoặc kiến thức thương mại, vì con cần biết cách cung cấp dịch vụ. Tiếc rằng con không có cả thời gian lẫn điều kiện tài chính để theo học những thứ đó.”

“Rất tốt là anh đã có ham thích sáng tạo. Còn việc theo một khóa học về cái gì đó thì không nhất thiết. Anh có thể xem chung quanh anh có những ai nắm được những kiến thức anh cần và có thể truyền đạt lại cho anh?”

“Hiệu trưởng trường con có biết một ít, nhưng việc nói với ông ta về làm ăn bị loại trừ.”

“Còn ai khác không?”

“Hiệu trưởng trường cũ của con, nơi con dạy trước đây.”

“Tốt, anh có thể nhờ ông ấy giúp.”

“Không…”

“Có gì cản trở?”

“Con cảm thấy không được…”

“Vì sao?”

“Con không biết, con không muốn quấy rầy ông ấy vì chuyện làm ăn.”

“Sao anh biết việc đó sẽ làm ông ấy thấy bị quấy rầy?” Ông thầy hỏi tôi với vẻ ngạc nhiên giống như khi tôi tuyên bố với ông ấy rằng tôi là một thầy bói có thể đoán trước người khác nghĩ gì.

“Chắc chắn ông ấy không muốn dành thời gian để giúp một người không thân thuộc, cũng không phải thành viên của gia đình.”

“Nếu là anh thì anh có giúp một người đến xin lời khuyên liên quan đến công việc không?”

“Có chứ ạ, chắc chắn.”

Ông già nhìn thẳng vào mắt tôi.

“Nếu thế thì anh sợ gì?” Ông ấy hỏi tôi với vẻ âu yếm vô hạn.

Một lần nữa, tôi có cảm giác giống như khi ông ấy đặt ngón tay ông vào đúng chỗ cần thiết, nhưng không cần ấn mạnh để gây tác động. Từ “sợ” có một âm hưởng đặc biệt trong tôi. Nó ngân vang như tiếng cồng trong lồng ngực, một thứ cồng mà những rung động của nó thấm sâu vào những nơi ngoắt ngoéo nhất trong tính cách của tôi. Và rồi nó phát lộ lên bề mặt làm tôi có cảm giác như một sự thật hiển nhiên. 

“Con sợ tự gây khó cho mình, vì thế con không muốn phiêu lưu.”

Chỉ vừa nghĩ đến đó, tôi đã cảm thấy xấu hổ giống như bị ông thủ trưởng cũ đuổi thẳng cổ.

“Nỗi sợ của anh xuất phát từ một sự nhầm lẫn, từ việc đồng nhất sự từ chối một yêu cầu với sự từ chối một con người. Người ta bác bỏ một lời thỉnh cầu từ phía anh không phải vì người ta không ưa anh hay vì không tôn trọng anh.”

“Có lẽ vậy.”

“Mặt khác, anh hoàn toàn không biết phản ứng của ông ấy có tiêu cực hay không. Người ta không thể ngồi một chỗ mà phán về mọi người. Toàn bộ vấn đề là anh có quyết tâm hay không.”

“Con không phải loại người hay tự hành hạ mình.”

“Phần lớn những nỗi sợ của chúng ta là sản phẩm của tâm trí. Có lẽ anh chưa hiểu điều này, trong khi việc biết cách đến với người khác để nhờ họ việc gì đó là cái rất quan trọng. Tất cả những người thành đạt trong cuộc sống đều hiểu điều này.”

“Có lẽ con có những người khác có thể bù lại cái con chưa có…”

“Anh nhất thiết phải nắm được cái đó. Người ta không thể làm được việc lớn trong cuộc sống nếu không biết cách đến với người khác để nhờ ủng hộ, giúp đỡ, khuyên bảo và hợp tác. Trước khi chúng ta chia tay, tôi giao cho anh một việc để giúp anh tiến bộ về mặt này.”

Tôi chấp nhận với yêu cầu thầy đừng bảo tôi trèo lên một ngọn núi khác hoặc bơi qua một eo biển đầy cá mập.

“Vì mục đích hiểu biết để thực hiện dự định, con phải liều đặt ra một vấn đề.”

“Là gì?”

“Làm studio một mình là không thể được, vì khi thực hiện công việc sẽ phải có thêm người để tiếp khách hàng hoặc trả lời điện thoại. Vì vậy, con sẽ phải thuê một hai người. Nhưng thế thì cũng dở.”

“Anh muốn nói gì?”

“Thực ra thì có một điều mà con sợ là con không có khả năng quản lý con người.”

“Sao anh biết?” Ông già hỏi tôi với vẻ cười cười.

“Hiệu trưởng trường con có lần đi vắng cả ngày, ông ấy yêu cầu con làm thay việc ông ấy để khi cần thì vẫn có người chịu trách nhiệm về công việc của nhà trường. Và y như rằng, đúng là có việc thật. Một đồng nghiệp của con bị mệt, và con phải chia học trò của người đó sang các lớp khác. Nhưng mỗi lớp đều đã có thời gian biểu riêng để làm việc với các học trò, nên học trò lớp mà con chia vẫn phải ngồi chờ tại lớp mình. Một số giáo viên còn phản đối, họ từ chối làm thêm giờ ngoài kế hoạch. Con thử thảo luận với từng người. Nhưng vô ích. Và sự việc kết thúc thật tồi tệ: cuối cùng con phải đưa các học trò đó về hết lớp con, một lớp mà phòng học quá hẹp, không đủ chỗ cho tất cả. Một số đứa bắt đầu khóc. Con không thể điều hành nổi nữa, và tình hình trở nên hỗn loạn. Sang ngày hôm sau, con có thể đọc thấy sự khinh bỉ trên mặt hiệu trưởng. Và con tự nhủ là sẽ không bao giờ thử làm lại việc điều hành con người nữa.”

“Anh gặp khó khăn một lần và kết luận luôn là anh không có khả năng đó?”

“Còn tệ hơn là khó khăn: đó là một thất bại.”

“Anh chưa bao giờ bắt đầu lại?”

“Con đã xem xét mình rất kỹ.”

“Anh đã bao giờ quan sát đứa bé tập đi chưa?”

“Con cảm ơn thầy đã đưa ra sự so sánh như vậy.”

“Trẻ nhỏ có rất nhiều thứ để ta học. Hãy nhìn một đứa bé tập đi: anh cho rằng nó thành công ngay từ lần đầu? Nó cố gắng đứng dậy và, hốp, lại ngã! Đó là thất bại thực sự, nhưng nó vẫn bắt đầu lại ngay tức khắc. Nó lại đứng dậy, và lại ngã! Mỗi đứa bé trung bình ngã khoảng hai ngàn lần trước khi biết đi.”

Ông già cười và nói thêm:

“Nếu mọi đứa trẻ đều như anh thì các nơi đầy những người đi bốn chân.”

“Tóm lại là thầy muốn nói với con rằng con tạo ra định kiến hẹp hòi chỉ từ một lần thất bại?”

“Đúng, và anh chắc chắn cần theo một khóa học thực sự về quản lý.”

“Như con đã nói với thầy, việc đó đòi hỏi con phải có thời gian và tiền bạc, mà cả hai thứ đó con đều không có dư.”

“Tôi không nghĩ rằng việc đó cần nhiều tiền hơn đi nghỉ ở Bali.”

“Con không muốn nói đến đi du lịch hay nghỉ cuối tuần. Việc nghỉ ngơi đối với con là bắt buộc.”

“Anh phải tự quyết định xem cái gì quan trọng hơn: thực hiện ước mơ hay tận hưởng những kỳ nghỉ, ông già nói bằng giọng thản nhiên để tôi được tự do nêu ý kiến.”

“Con muốn thực hiện ước mơ, nhưng con sẽ rất buồn nếu không được đi du lịch.”

“Anh vừa nói là việc thực hiện ước mơ sẽ làm anh hạnh phúc. Du lịch có làm anh hạnh phúc không?”

“Có thể nói là rất nhiều. Du lịch mang đến cho con nhiều thú vui và con thấy ham thích.”

“Có những tình huống buộc người ta phải lựa chọn và đi đến từ bỏ những cái mà người ta đã từng ham thích để đến với cái tâm đắc nhất”, ông già nói thật đơn giản.

“Con ghét phải từ bỏ bất kỳ thứ gì.”

“Nếu anh không từ bỏ cái gì thì anh sẽ không dám lựa chọn. Và nếu không dám lựa chọn thì sẽ không dám sống cuộc đời như mong muốn.”

Ông nói điều đó một cách mềm mỏng, với cái nhìn đầy nhân hậu. Tôi, kẻ thường xuyên có ấn tượng là né tránh quyết định sẽ làm tôi tránh được đau khổ, bây giờ lại có cảm giác là bằng cách đó tôi đang làm nỗi thống khổ của bản thân tăng lên.

“Hãy hiểu tôi cho đúng, ông già nói tiếp, tôi không định ép anh đừng đi du lịch nữa. Tôi chỉ muốn anh ý thức được rằng không thể thực hiện được ước mơ của cuộc đời nếu không sẵn sàng cố gắng, và khi cần, hy sinh một vài thứ.”

Điều này rõ ràng có vẻ hợp lý, nhưng tôi vẫn chưa đi đến một quyết định có thể đòi hỏi nỗ lực và sự hy sinh. Thậm chí tôi cảm thấy rằng một số người sinh ra đã như vậy, có năng khiếu như thế. Trường hợp tôi thì không thấy rõ cái đó.

“Đi theo con đường của mình để sau này thực hiện ước mơ, cái đó đôi khi giống như trèo núi: khi người ta không làm việc đó, người ta không hiểu được rằng những cố gắng cần thực hiện sẽ làm tăng sự thỏa mãn mà người ta có khi đến đích. Cố gắng càng nhiều, hạn phúc càng lớn, và nó càng ở lại với ta lâu hơn.”

Tôi lắng nghe từng lời của thông điệp, và thầm cảm ơn ông đã tránh bình luận về việc tôi tránh leo lên đỉnh Skouwo.

“Tôi phải tìm ra cách, ông nói như với chính ông, để giúp anh xem nên chọn cái gì, cố gắng làm gì và hy sinh cái gì…”

Đó là lúc tôi gặp may rằng ông già này quan tâm đến tôi vào thời điểm cần xác định những gì mình thiếu để đưa ra những cam kết, để tôi học được những điều mà tôi cần học.

“Hôm nay ta dừng ở đây, ông già nói tiếp, nhưng ngày mai tại đây, tôi muốn anh nêu những việc sự định làm trong mấy tháng tới, và hình dung ra rằng anh đã lĩnh hội được mọi kiến thức mà hiện giờ anh còn thiếu. Tôi muốn anh tự coi mình là một nhà nhiếp ảnh, và nói cho tôi biết anh cảm thấy thế nào.”

“Con đồng ý.”

“Điều cuối cùng: tôi đã hứa sẽ giao cho anh một nhiệm vụ để thực hiện, để anh thoát khỏi nỗi sợ phải gặp mọi người để yêu cầu giúp đỡ, để đẩy xa nỗi sợ đó.”

“Vâng.”

“Và thế này: mai ta gặp lại, và ở đây anh sẽ nhờ đến những người mà anh chọn để nhờ giúp đỡ, việc gì không quan trọng, nhưng trong đầu phải nghĩ đến một đối tượng nào đó.”

“Đối tượng nào ạ?”

“Đối tượng mà khi yêu cầu anh sẽ nhận được sự từ chối từ phía họ.”

“Sao cơ?”

“Anh hiểu rõ tôi nói gì: anh cần chuẩn bị tâm thế để tiếp nhận việc họ từ chối. Chính xác hơn, anh cần làm sao cho họ nói “không” một cách rõ ràng. Họ phải phát âm từ này lên. Và nhiệm vụ của anh là nhận được năm lần “không” ở đây vào ngày mai.”

“Cái đó thì có vẻ không khó…”

“Khi đó anh sẽ thấy thú vị. Tôi chờ anh tại đây vào sáng mai.” Ông già nói và ra hiệu chia tay.

“Có một điều là con rời Bali về nước vào thứ Bảy.”

“Thế à? Tôi đã nghĩ là có thể gặp thêm ba bốn lần nữa.”

“Mai và thứ Sáu thì được, còn thứ bảy buổi chiều con lên máy bay. Liệu có thể gặp vào buổi sáng được không ạ?”

“Thứ Bảy thì tôi không rỗi buổi sáng.”

“Hỏng… Thực sự không gặp được.”

“Nếu anh thực sự muốn gặp lần cuối vào thứ Bảy thì chỉ cần đổi vé máy bay và về vào Chủ Nhật! Ông già nói như không.”

“Không dễ đâu thầy ạ: loại vé mà con cần khi đổi phải phụ rất nhiều, ngoài ra thứ Hai con phải làm việc rồi. Chuyến bay kéo dài đến mức con phải đi thẳng từ sân bay đến lớp học luôn. Con muốn tránh…”

“Mai ta sẽ xem anh còn vấn đề gì quan trọng cần xem xét nữa không và liệu có cần gặp thêm vào thứ Bảy hay không.”

 

MƯỜI BA

Tôi biết rất rõ còn rất ít thời gian trước khi lên đường, và tôi muốn hành động ngay lập tức. Tôi đã hiểu rằng những nhiệm vụ được giao cho tôi giữa hai lần gặp không phải là vô ích, và bây giờ tôi sẵn lòng thực hiện những nhiệm vụ được giao hôm nay.

Tôi chắc chắn không phải người hứng thú với ý tưởng làm điều mà tôi ghét: nhờ mọi người làm việc gì đó vì tôi, nhưng tôi tò mò muốn thấy việc này có thể đưa tôi đến đích như thế nào, vì từ nay tôi tin rằng mọi điều mà ông lang làm đều mang ý nghĩa nào đó.

Tôi trở lại Ubud vì tôi cần một nơi có thể tìm được những người phương Tây; nhờ vả người Bali thì khó mà thất bại: người ở đây không biết nói “không”.

Tôi phải bắt đầu từ đâu? Tôi cần nêu ra những yêu cầu để người ta từ chối. Nói ngắn gọn là tôi phải xoay xở thế nào đó để có kết quả là sự lảng tránh. Tôi sẽ phải nghe thấy từ “không” năm lần mà không phản hồi lại những người từ chối tôi. Tài thật.

Đường phố khá náo nhiệt vào giữa buổi chiều hôm đó. Tốt lắm: tôi càng dễ giấu vẻ xấu hổ của mình.

“Taxi! Taxi!”

Người Bali gọi khách du lịch hầu như khắp nơi. Một trong hai người đến gần tôi.

“Tôi không mang theo tiền, anh có thể chở tôi miễn phí đến Kuta không?” Tôi vừa cười vừa nói.

“Chỉ mất 50 ngàn rupi, anh có thể trả khi quay về”, anh ta nói với nụ cười rộng mở.

“Không, tôi không có tiền, anh có thể giúp tôi được không?”

“Được, anh rất đẹp trai, với anh thì chỉ 30 ngàn là đủ.”

“Không. Miễn phí. Giúp không.”

“20 ngàn tôi cũng đồng ý.”

“Không, tôi không thể.”

“Thôi được, ta đến Kuta rồi sẽ thảo luận giá, dễ thỏa thuận thôi. Anh lên đi!”

“Không, tôi đùa đấy, tôi đi hướng khác, cám ơn.”

Tôi cảm thấy càng lúc càng khó chịu.

“Thì anh cứ lên, tôi đã bảo sẽ thỏa thuận được mà.”

“Thôi được, cám ơn, rất cám ơn.”

“Nào, lên đi!”

“Không. Cám ơn. Tôi đổi ý rồi, tôi không đi Kuta. Tạm biệt.”

Anh ta cười cười nhìn tôi bỏ đi, có vẻ như muốn nói: “Mấy vị người Tây này kỳ cục thật.”

Thế là một lần không được gì. Tôi cần nghe năm lần “không”, nhưng hóa ra lại là tôi nói “không”. Mà tại sao tôi lại đi nói với một người Bali mà tôi đã quả quyết là vô tác dụng? Chắc là để dễ dàng: người Bali rất đôn hậu, nhã nhặn, và họ làm tôi cảm thấy dễ dàng hơn với những người đồng bào hay hàng xóm của tôi. Tôi cần nhận ra một điều hiển nhiên: tôi sợ bị từ chối đến mức thà tăng mức độ khó khăn của bài thực hành còn hơn đối mặt với nỗi sợ. Cuối cùng, tôi phải lấy được dũng khí, đối mặt với sự hoảng sợ, tập hợp nhanh gọn năm cái “không” rồi chạy trốn biệt về bãi tắm vắng vẻ của tôi.

Tôi nhìn quanh. Hàng trăm khách bộ hành đang đi tới đi lui trên vỉa hè hẹp của đường phố chính. Đám này đi ra từ những phòng tranh trong khi đám khác đi vào những quán café được trang trí theo lối hậu thuộc địa hơi quá cầu kỳ đối với người phương Tây. Mọi người đều vừa đi vừa chú ý để khỏi dẵm lên những thứ quà lưu niệm được bày bán đầy trên mặt đất.

Tôi muốn lao xuống nước, bỏ cái việc đi nhờ vả, bất kể là nhờ ai và nhờ việc gì. Đúng lúc đó, trước mặt tôi hiện ra một phụ nữ Mỹ to lớn, tóc hoe, mặc váy màu lam, áo ngắn màu hồng để lộ cái hõm rất sâu của bộ ngực đồ sộ. Chị ta từ quầy giải khát đi ra, trên tay là một ốc đầy kem lạnh.

“Kem của chị nhìn ngon quá!” Tôi nói.

“Ngon tuyệt!” Chị ta trả lời, mắt ngời lên vẻ háu ăn.

Cặp môi dày mọng của chị ta bóng lên, rồi mờ đi bởi hơi lạnh chung quanh ốc kem.

“Chị cho tôi nếm thử tí?” Tôi liều mạng hỏi.

“Ô, anh là đồ đểu!” Chị ta nói, mắt sáng rực, miệng cười đầy vẻ tham lam.

Tôi đọc được trong ánh mắt của chị ta rằng nếu tôi đặt môi lên ốc kem mà chị ta đang liếm thì cũng gần như là hôn chị ta vào cái miệng đầy kem.

“Được hay không?”

“Ừ thì được, bạn thân mến ạ”, chị ta trả lời và đi lại gần tôi, mắt nhìn ngấu nghiến.

“Không, tôi đùa đấy”, tôi nói, cố cười thành tiếng.

“Đừng sợ, bạn có thể nếm. Lại đây.”

“Không, cám ơn, tôi nói vơ vẩn ấy mà… Đúng là vơ vẩn. Chị cứ việc, tạm biệt, chúc ngon miệng.”

Tôi để chị ta đứng trơ ra đó giữa hè phố với vẻ ngờ vực, tay chết cứng quanh ốc kem đang tan chảy giữa những ngón tay múp míp.

Lại một thất bại. Mà lại còn thất bại với những người bằng hệ. Tôi như một cây mẫu đơn đỏ nhưng lại muốn làm tổn thương người khác. Tôi rảo bước và rẽ trái ở giao lộ gần nhất, rồi đứng lại trên khoảng đất trống một lát để lấy lại tinh thần. Tôi tự hỏi yêu cầu tiếp theo của tôi sẽ là gì, khi thấy ở cửa rừng một tấm biển đề “Pringga Juwita”. Tôi đi tới và nhận ra sau đám cây rậm rạp vài ngôi nhà nhỏ của một khách sạn treo trên cây. Tôi đi lại gần hai du khách đang đi vào cửa rừng.

“Xin hỏi, tôi nói, hai vị ở trong khách sạn này ạ?”

“Vâng.”

“Tôi thì ở phía đông đảo. Xe của tôi bị hỏng, không kịp sửa xong trong hôm nay. Tôi không có đồng nào để vào nghỉ ở khách sạn. Tôi biết yêu cầu của tôi không bình thường, nhưng liệu may ra hai vị có chấp nhận cho tôi ngủ chung trong phòng hai vị đêm nay được không? Tôi không muốn qua đêm ở ngoài trời.”

Họ nhìn nhau một lát, có vẻ bất ngờ, rồi một trong hai người nói:

“Xe của anh bị hỏng?”

“Vâng.”

“Anh không nhờ người sửa xe cho anh ngủ nhờ?”

“Không.”

“Người ở đây hiếu khách lắm, người sửa có lẽ sẽ cho anh ngủ nhờ tại nhà mình hoặc giới thiệu sang nhà hàng xóm. Tôi rất muốn giúp, nhưng phòng tôi khá chật. Anh có muốn tôi nói với chủ khách sạn không? Bọn tôi đã ở đây 8 ngày, họ biết rõ bọn tôi. Tôi biết là họ nhiều khách, nhưng chắc chắn họ biết ai đó có thể cho một người bạn của khách hàng ngủ nhờ.”

“Thôi, tôi sẽ tự thu xếp. Cám ơn vì đã quan tâm.”

“Tùy anh.”

“Dù sao cũng cám ơn.”

“Chúc mạnh dạn.”

“Cám ơn, tạm biệt.”

Họ thật tốt tính, họ không thể nói “không” cho đơn giản? Nhìn họ đi khuất sau chỗ rẽ, tôi bắt đầu có cảm giác sự việc khó hơn tôi tưởng.

Một người khách khác vừa ra khỏi khách sạn, và khi tôi đang chuẩn bị nêu yêu cầu thì cái dáng đi nhẹ nhàng, cách ăn mặc tươm tất và những đường nét tinh tế của gương mặt anh ta đã làm tôi bỏ ý định: tôi sợ anh ta lại chấp nhận đề đạt của tôi.

Tôi đổi hướng, trở lại phố chính. Vẫn đông người. Tôi cần phải tìm ra yêu cầu về một điều gì đó thật lớn lao để người ta buộc phải từ chối. Xem nào… xem nào… Để xem. Tiền! Đúng, phải là tiền. Khi đụng đến ví tiền, người ta sẽ cảnh giác và từ chối thẳng thừng.

Tôi đi qua trước cổng vào bưu điện và bắt chuyện với người đầu tiên từ đó đi ra. Trạc 50, tóc xám cắt rất ngắn, trông khá đàn ông, thuộc dạng có vẻ quả quyết và chưa từng gặp khó khăn khi nói “không”: một ‘con mồi’ lý tưởng. Tôi thích người đó.

“Xin lỗi vì làm phiền bà, nhưng tôi đang rất cần gọi một cuộc gọi quan trọng ra nước ngoài. Tôi lại không mang theo tiền. Liệu bà có làm ơn cho tôi năm trăm rupi để tôi được dùng buồng gọi của bưu điện được không?”

“Anh cần gọi khẩn cấp à?” Bà ta hỏi bằng giọng khá xẵng.

“Vâng.”

“Anh cần gọi đi đâu?”

Bà ta nhìn thẳng vào mắt tôi và cau mày.

“Đi Mỹ.”

“Anh gọi lâu không?”

Tôi có cảm giác như đang bị cảnh sát hỏi cung.

“Lâu, năm-sáu phút gì đó.”

“Đi theo tôi về khách sạn”, bà ta ra lệnh. “Ở ngay trên bờ biển. Tôi dùng buồng gọi của khách sạn với thẻ trả trước được đúng ba lần. Nhưng anh chỉ được gọi ba phút với đồng hồ trên tay, không hơn.”

“Thật không may, như thế không đủ. Bà có cho tôi được sáu phút không?”

Tôi không còn nhận ra chính mình nữa. Từ trước đến giờ, tôi chưa bao giờ cả gan hỏi xin ai cái gì, nhất là một người đàn bà rất lịch sự đến mức đã cho ba phút dùng thẻ để giúp khẩn cấp một người lạ.

“Tôi tin rằng anh dùng ba phút là đủ. Đi! Bà ấy nói và dẫn tôi đi. Anh nên học cách nói vào việc chính luôn. Cái đó rất có ích trong cuộc sống.”

Rõ ràng mọi người đều muốn cho tôi lời khuyên về cách sống.

“Không, nhưng… Tôi không muốn vào khách sạn làm rầy bà. Xin bà đừng bận tâm nữa, tôi sẽ tự xoay xở.”

“Cái đó có rầy gì đâu”, bà ấy quả quyết khẳng định, tiếp tục đi và ra hiệu cho tôi đi theo.

“Nhưng chính bà chắc chắn cũng cần dùng. Tôi không thể làm giảm tài khoản liên lạc của bà.”

“Đi, đi, và đừng nêu thêm những câu hỏi viển vông nữa. Nếu cái đó gây phiền toái thì tôi đã không bảo anh.”

Mười phút sau, tôi gọi số của mình ở nhà, rồi hối hả đàm thoại với bộ trả lời tự động. Tôi nói vuốt đuôi sau hai phút:

“Bà có lý: hai phút là đủ.”

“Tốt! Thế nào, công việc ổn rồi chứ?” Bà ấy hỏi với giọng của người kiểm tra kết quả công việc.

“Vâng, tôi không biết cảm ơn bà thế nào.”

“Trong trường hợp này thì đừng cảm ơn tôi.”

“Tạm biệt, và hãy nhớ: trong cuộc sống, cần biết đi thẳng tới đích.”

Bà ấy nhìn tôi đi khỏi, và khi tôi cách khoảng chục thước, bà ấy cười, rõ ràng là bằng lòng với bản thân… và không thể nào ngờ được rằng bà ấy đã hành động ngược lại với điều tôi quan tâm.

Tôi chán ngán bước vào quán café đầu tiên mà tôi thấy để nghỉ lấy sức. Với cung cách này thì chắc tôi phải mất cả tuần mới thu thập đủ năm từ “không”. Thật nản. Khi đi qua cửa, tôi thấy trạng thái tĩnh lặng của người tập yoga thật tương phản với vẻ mệt nhọc của tôi, và điều đó làm tôi thấy yên lòng. Làn ánh sáng được chắn bớt bởi những chiếc rèm cuốn, những chiếc ghế bành thấp, bàn thấp, nhạc trầm của Shaaban Yahya, giọng nói nhỏ nhẹ của khách hàng: đó là nơi lý tưởng để tôi nhìn lại mình ít phút và lấy lại sức. Tôi gọi một li trà đá rồi ngồi phịch xuống chiếc ghế bành, thả cho những mệt nhọc tích tụ trong người vơi dần. Tôi thả cho mí mắt nhắm lại một lúc rồi khẽ hít thở để đẩy không khí trong hai lá phổi ra ngoài. Tôi có cảm giác như đã suốt một giờ liền tôi quên thay không khí trong phổi. Luồng không khí mới mà tôi hít vào làm hai lỗ mũi tôi thấy dễ chịu, và mùi thơm của trà và hương hòa lẫn với nhau làm tôi thấy lâng lâng. Trong người tôi lan tỏa cảm giác thư thái từ phế quản đến tận những đầu dây thần kinh li ti. Trong phút chốc, tôi như rơi vào trạng thái không trọng lượng, đầu óc trống rỗng.

Khi tôi mở mắt, tôi thấy một thiếu phụ như bất chợt hiện ra và ngồi trên một chiếc đệm cách tôi mấy thước. Tôi biết rằng khi tôi bước vào thì cô ấy không có ở đó, còn nếu cô ấy đã ngồi ở đấy trước đó thì sự chìm đắm trong suy nghĩ đã làm cho tôi không thể nhìn thấy cô ấy cho đến khi tôi tỉnh ra. Nàng thật mảnh mai với tấm lưng nhỏ nhắn, và tôi có thể thấy vóc dáng của nàng với đường cong tự nhiên kỳ diệu. Mái tóc dài mượt mà của nàng được buộc lại sau gáy, để lộ nét tinh tế. Nàng đang chăm chú đọc một cuốn sách đặt trên chiếc bàn thấp, và tay phải nàng đang tự động khuấy chiếc muỗng nhỏ trong li trà thơm. Tôi nhìn nàng rất lâu và thầm ngưỡng mộ vẻ đẹp tự nhiên của nàng. Nàng ngừng đọc, đưa li trà lên môi, cặp môi mọng gợi cho tôi nghĩ đến quả phúc bồn tử. Nàng đặt li trà xuống và ngoảnh mặt một cách rất duyên dáng về phía tôi, và cái nhìn của nàng đặt lên tôi như kiểu nàng đã thấy tôi từ trước và đang đợi thời điểm để làm tôi chú ý. Mắt nàng gặp mắt tôi và không rời ra trong một khoảng thời gian mà tôi tưởng là vô tận. Tôi như bị hớp hồn, đến mức không dám nháy mắt. Tôi cảm thấy khoảng cách giữa chúng tôi bị rút ngắn, giống như khi làm một phép co, và mọi thứ chung quanh chúng tôi như mờ dần hay đang biến đi. Tôi như bị cuốn vào một trận cuồng phong bởi vẻ đẹp làm tôi say mê, hay giống như vào một hố đen. Tiếng nhạc bao trùm không gian vừa như lùi ra xa, vừa như thấm vào trong tôi. Cô gái không cười, và gương mặt hoàn toàn bất động. Chỉ có cánh mũi nàng khẽ phập phồng theo nhịp thở. Sẽ là vô ích nếu định thử xem nàng nghĩ gì hay cố hiểu xem ánh mắt nàng nói lên điều gì. Điều chúng tôi đang trải nghiệm nằm ngoài ý nghĩ, ngoài ngôn ngữ, ngoài hiểu biết. Tâm hồn nàng nói với tâm hồn tôi, và tâm hồn tôi đáp lại. Chỉ có tâm hồn nhìn nhau, và sẽ là vô ích nếu đi tìm ý nghĩa của những gì chúng tôi đang trải qua. Lúc đó, tôi hoàn toàn không muốn gì, không cần thứ gì nữa. Tôi không còn là chính mình, tôi đang bên ngoài bản thân mình. Trong khoảnh khắc, có lẽ tôi đã đạt tới cái chiều tồn tại mà trong đó các sinh linh được kết nối và giao tiếp vô ngôn.

Cảm giác về thời gian của tôi bị sai lệch đến mức tôi không còn biết trạng thái đó diễn ra bao lâu. Liên kết bị gián đoạn khi một người phục vụ đem phiếu thanh toán đến và cắt đứt cuộc giao tiếp. Khi tôi trả lời người phục vụ, móc ví tìm tiền, trả và nhận tiền thừa, thì nàng… không còn ở đó nữa! Nàng biến đi bất ngờ giống như khi xuất hiện. Tôi cảm thấy sẽ vô ích nếu tìm nàng, nếu lao ra ngoài và đi hỏi thăm những người ở đó. Tìm nàng, thiết lập quan hệ, chuyện trò,… tất cả những cái đó chỉ là đưa những cái mà chúng tôi có trên tầng tâm linh về bình diện thế tục. Như thế thì không thêm được gì vào sự hoàn hảo mà chỉ làm xấu đi, làm nàng xa dần và cuối cùng thì mất nàng. Và kiểu gì thì sự hoàn thiện cũng không phải dùng cho một mối quan hệ. Không ai xây nhà từ nóc. Cuộc sống không có sự hoàn hảo.

Trong tư thế yoga, tôi ngồi thêm một lúc để nhớ lại nhiệm vụ. Tôi đi ra và mất thêm một giờ nữa để bắt chuyện với những người đi đường và nêu ra đủ loại yêu cầu, và ngày càng đi xa hơn vào những thứ không thể chấp nhận. Tuy nhiên, không lần nào tôi nhận được một tiếng “không” thẳng thừng và chắc nịch. Người này thì chấp nhận một phần yêu cầu của tôi, người kia lại tìm cách gián tiếp từ chối. Mặc dù rất quyết tâm thực hiện nhiệm vụ này, tôi đã sắp phải kết thúc ngày hôm đó trong tâm thế khá bực mình. Rất may, người mà tôi bất ngờ nhận ra ở góc phố có thể sẽ giúp được tôi trong việc ngăn chặn thất bại.

“Hans! Hans!” Tôi gọi từ xa. “Hans, anh có đưa tôi ít tiền được không?”

 

MƯỜI BỐN

Tôi trở về nhà trọ trong khi tận hưởng một chiến thắng dễ dàng. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi cảm thấy sự khoan khoái tràn ngập khi nhìn thấy một bộ mặt đóng kín, một cái nhìn đóng băng, cặp lông mày chau lại đến mức tạo ra một rãnh sâu phía trên sống mũi, cặp môi mím chặt.

Tôi có cảm giác là màn kịch đang được quay chậm lại, một sự quay chậm đặc biệt, cho phép quan sát đến phần nghìn giây, hết ảnh nọ đến ảnh kia, và tôi nhớ lại từng ảnh dường như đó là của hôm qua: tôi thấy miệng anh ta há ra, và đúng vào thời điểm mà tiếng nói của anh ta ra khỏi miệng thì hơi thở khô khốc của anh ta bật mạnh ra tạo thành cái từ kỳ diệu của sự từ chối, cái từ mà tôi đã tìm kiếm vô vọng trong cả buổi chiều. Tôi thích chiếu lại màn kịch để xem lại toàn bộ.

Tôi muốn giơ cao hai tay, ngước nhìn lên trời và khuỵu xuống đầu gối, như các nhà vô địch quần vợt hay làm khi chiến thắng trong trận chung kết của một giải đấu lớn. Tôi muốn đu lên cổ anh ta mà ôm với lòng biết ơn. Tôi muốn được cười và im lặng nhìn anh ta, tận hưởng sự khoan khoái được thấy anh ta giảng giải về địa vị của mình với lời xin lỗi nhạt nhẽo hoặc kèm theo lên lớp đạo đức. Khi tôi nói với anh ta rằng đó là trò đùa, rằng tôi không cần tiền, anh ta cười một cách gượng gạo, và tuy anh ta thấy nhẹ người nhưng vẫn có cái vẻ bồn chồn do yêu cầu của tôi gây ra.

Sung sướng vì chiến thắng, tôi nhận ra nội dung thứ hai trong cuộc điện đàm với hãng du lịch Kuta, trong đó họ đã nói “không” với tôi một cách rõ ràng, rằng không thể đổi vé máy bay cho tôi mà không đòi tôi nộp thêm 600 dollar. Tôi chưa bao giờ nhận một tin xấu như vậy với một sự vui mừng đến thế.

Trong phút hào hứng, tôi đã gọi điện cho hiệu trưởng cũ của tôi. Tôi đã không tính đến chênh lệch múi giờ và cảm thấy hình như đã lôi anh ta ra khỏi giường: anh ta nói với giọng ngái ngủ và tỏ ra rất lo lắng về việc bị điện thoại đánh thức vào giữa đêm khuya, sợ nhận được một tin khủng khiếp đến mức không thể ngủ lại được nữa vào giờ đó. Tôi nói với anh ấy về dự định của mình một cách hào hứng mà không hề nghĩ rằng tôi thì đang quá phấn khích, còn anh ta thì đang ngái ngủ. Anh ta im lặng nghe tôi nói, và khi tôi hỏi anh ấy liệu có thể chấp nhận dành thời gian để truyền đạt cho tôi những kiến thức về công việc của anh ấy hay không, anh ấy đã đồng ý, và rõ ràng đã thở phào vì tôi không gọi điện để báo tin bà anh ấy qua đời hay trường anh ấy bị nổ tung vì vụ một đánh bom cảm tử của bọn khủng bố.

Kết cục hai trên năm là điểm tốt đối với người mới bắt đầu, và tôi tự tin và thanh thản đi tới bãi tắm của tôi để dành buổi tối cho nhiệm vụ thứ hai: hình dung ra mình là nhà nhiếp ảnh, quan sát chính mình để thấy những cảm xúc bên trong khi làm cái nghề mới này.

Tắm đêm quả là thời điểm tuyệt vời để trút bỏ phiền muộn, để thư giãn và tận hưởng sự khoan khoái sau một ngày mệt mỏi nhưng thành công.

 

MƯỜI LĂM

“Thế nào, thu thập các từ “không” có dễ như anh hình dung không?”

“Nói thật, con công nhận là không.”

Ông già cười, trong khi vẫn đang ngồi ở tư thế xếp bằng trên chiếu. Tôi nhìn ông, sung sướng vì đã thành một gương mặt mới đối với ông ấy. Tôi yêu gương mặt của ông, thanh thản và điềm tĩnh. Gương mặt của một người không mong mỏi điều gì từ cuộc đời, không khao khát điều gì, không có ham muốn gì đặc biệt. Một người bằng lòng với cuộc sống, gợi ý người khác đạt đến trạng thái đó, như một mẫu hình mà người ta có thể theo, nếu muốn.

“Những người sợ bị từ chối, ông già nói tiếp, khó mà biết được rằng hiếm khi bị người khác từ chối. Cái đó cũng khó gần như được nhận. Con người nói chung có xu hướng muốn giúp nhau, không muốn lừa dối, và luôn có cảm giác là anh chờ đợi gì đó từ họ. Chính xác là vì người ta sợ bị từ chối mà kết quả là tuân theo cơ chế định kiến mà bây giờ anh đã học cách biết.”

“Đúng thế.”

“Khi người ta đến với người khác để yêu cầu họ điều mà người ta cần, thì cả một thế giới sẽ mở ra cho ta. Sống là mở lòng cho người khác, không phải để kép kín bản thân. Tất cả những gì cho phép kết nối với người khác đều tốt.”

Tôi nhớ lại việc kết nối với Hans tối qua… Dù sao thì tôi cũng đã trải qua một thời khắc thú vị, và nói cho cùng thì anh ta đáng thương hơn là đáng khinh.

“Con nghĩ thực ra thì thầy có lý.”

“Thế anh đã tập hình dung anh là người mà anh muốn trở thành chưa?”

“À, đúng ra là con muốn nói với thầy là con gặp một vấn đề về chủ đề này.”

“Sẽ rất tốt nếu có đầy đủ ý thức trước khi thực hiện dự định.”

“Vâng, chắc chắn là…”

“Vấn đề của anh là gì?”

“Khi con tưởng tượng mình là nhà nhiếp ảnh, nghĩa là một nghệ sỹ, con cảm thấy không dễ thực hiện ý tưởng đó.”

“Chính xác là anh thấy có gì khó chịu? Ông già hỏi với vẻ khích lệ.”

“À, con là kẻ… Nói sao nhỉ? … từ một gia đình chỉ đánh giá cao các nghề lao động trí óc. Cha mẹ con định hướng cho con theo học cao học. Con phải nói là con không có sự lựa chọn khác. Trong gia đình con, chỉ người theo nghề khoa học hay giáo dục mới được trọng, gần như chỉ có thế. Các nghề khác được coi là ít quan trọng. Nên một người làm ảnh thì…”

“Họ có quyền giữ ý kiến đó, và anh cũng có quyền làm việc gì anh muốn cho cuộc sống của anh.”

“Chắc chắn thế, và ở tuổi con thì thấy rõ là con không nên theo họ, nhưng việc đó sẽ làm họ bị sốc. Con sợ họ sẽ buồn.”

“Vậy hiện giờ họ có buồn vì thấy anh kém thành đạt trong nghề không? Họ có tìm anh để động viên không?”

“Không, đúng ra là không.”

“Vậy tôi hỏi anh, anh cho là họ thích cái gì hơn: thích anh là một thầy giáo kém hay là nhà nhiếp ảnh giỏi?”

“Đúng ra thì…”

“Đúng ra thì phải thấy rằng nếu ta chỉ yêu người khác khi họ sống theo ý ta thì đó không phải tình yêu. Chính vì thế mà tôi tin rằng anh không có gì phải sợ từ phía những người yêu thương anh. Ngay trong một gia đình thương yêu lẫn nhau thì mỗi người cũng phải sống cuộc sống riêng. Một việc nên làm là xem xét những hệ quả của việc người ta tác động lên người khác để làm người khác được hạnh phúc hơn, nhưng kết quả thì ngược lại, vì họ không biết hết những nguyện vọng của người khác, và càng biết ít hơn về cách mà người khác tiếp nhận tác động của họ. Mỗi người đều phải chịu trách nhiệm về quan điểm của chính mình. Anh không phải chịu trách nhiệm về quan điểm của người khác.”

Chắc chắn là ông già có lý, nhưng vẫn còn gì đó  làm tôi băn khoăn.

“Thực ra thì con đang tự hỏi con đã không ‘lây nhiễm’ từ gia đình ở mức độ nào: mặc dù con rất hào hứng với dự định, nhưng con vẫn không thật thoải mái với việc bỏ giới khoa học để sang giới nghệ thuật.”

“Tôi cho rằng dùng lý sự kiểu phe nhóm, nhất là kiểu lệ thuộc vào phe nhóm, đã lỗi thời rồi. Đây không phải vấn đề anh chuyển từ nhóm người này sang nhóm người khác, mà là vấn đề thực hiện ước mơ mà anh ấp ủ bấy nay.”

Tôi trầm ngâm, tất nhiên là bị tác động khá mạnh bởi lời thầy, nhưng tôi cho rằng ông ấy cảm thấy được là tôi đang trong tình huống bế tắc.

“Đi đằng này với tôi, ông vừa nói vừa chậm rãi đứng dậy.”

Nhìn điệu bộ của ông, tôi hiểu rằng lần đầu tiên ở tuổi của ông, ông thoáng xúc động, và sự xúc động nhanh chóng trôi qua khi ông nói ra bằng lời nói chính xác và điềm tĩnh.

Tôi đứng dậy và đi theo ông. Ông đi vòng qua mấy ngăn lán, rồi đi vào một lối mòn ngoằn ngoèo giữa đám cây rậm rạp không có đường viền như kiểu một khu vườn. Chúng tôi đi bên cạnh nhau khá lâu trong im lặng, rồi đến đoạn đường rộng, và tôi leo trước lên đỉnh dốc. Chung quanh là những mảnh vườn rất hẹp được rào dậu kỹ càng, có vẻ là vườn cây thuốc, trong đó có những cây trổ hoa vàng và xanh li ti. Sau khi đi ngang qua mấy bụi tre xanh rì và rậm rạp, chúng tôi đến một nơi tranh tối tranh sáng đầy hơi ẩm, rồi con đường đột ngột vòng lên sườn núi và uốn lượn đến chóng mặt quanh thung lũng. Tôi biết đó là một làng trên núi, nhưng không thể ngờ được rằng trung tâm khu vườn của thầy Samtyang chiếm gần hết cả một thung lũng kéo dài mấy cây số, còn thêm cả hai ba trăm thước phía dưới thấp nữa. Quang cảnh nhìn từ trên cao – chúng tôi như được treo phía trên một khoảng trống – hoàn toàn trái ngược với những phần còn lại của khu vườn, nơi mà cây cối rậm rạp che khuất tầm nhìn. Chúng tôi ngồi cạnh nhau trên một mỏm đá, chân đung đưa trên khoảng không, im lặng ngắm nhìn phong cảnh hùng vĩ một hồi lâu, và tôi cảm thấy mình thật bé nhỏ. Cuối cùng, ông già phá vỡ sự im lặng bằng giọng nói điềm đạm và độ lượng.

“Anh thấy gì ở những ruộng lúa kia?”

Tôi nhận thấy ở xa xa bên dưới có vài chục người nông dân đang lội trong nước ngập đến nửa bắp chân, lưng khom và tay đang duỗi ra trên những ngọn lúa.

“Con thấy một toán người đang làm việc trên đồng.”

“Không, tôi không nói đến toán người đang làm.”

“Một nhóm nông dân, nếu thầy ưng nói thế hơn.”

“Không, không phải toán hay nhóm gì cả.”

A, ông ấy lại chơi chữ đây, tôi thầm nghĩ.

“Anh có biết trên thế giới có bao nhiêu con người không?”

“Khoảng từ 6 đến 7 tỉ.”

“Và mỗi người có bao nhiêu mã di truyền?”

“Con không biết, chắc vài ngàn?”

“Gần ba mươi ngàn. Và trong số 6 tỉ người, không có lấy hai người có cùng bộ mã di truyền. Không có nổi hai! Anh có để ý không? Trong tổng số 6 tỉ, không có hai người nào hoàn toàn giống nhau.”

“Phải, mỗi người chúng ta đều là độc nhất.”

“Chính xác. Và ngay cả nếu một số người làm cùng nghề, sống cùng nơi vào cùng một thời điểm, thì cũng không thể coi họ như một toán hay một nhóm, vì dù họ có bao nhiêu điểm giống nhau để ở trong cùng một cộng đồng thì số yếu tố để phân biệt với nhau vẫn nhiều hơn là số điểm chung liên quan đến nghề chung.”

“Con hiểu điều thầy muốn nói.”

“Đôi khi người ta thích lý giải theo các phạm trù, thích nhìn nhận con người như là những đối tượng thuộc phạm trù này nọ, trong khi ở dưới cánh đồng kia có mấy chục người mà mỗi người có một đặc trưng riêng, một cuộc đời riêng, một tính cách đặc biệt, các thị hiếu đặc biệt. Quá nửa trong số họ sống trong làng và tôi biết họ. Riêng lý do để họ đến với công việc này cũng đã rất khác nhau. Người này vì thích làm việc dưới nước, người kia vì không có lựa chọn khác, người thứ ba vì công việc này cho thu nhập nhiều hơn nghề trước một chút, và người thứ tư làm để đỡ cho cha già, người thứ năm vì thích chăm cây và thích thấy chúng lớn lên, người thứ sáu vì đó là truyền thống gia đình và trong đầu họ không bao giờ xuất hiện ý nghĩ làm nghề khác. Khi người ta xếp loại thành từng nhóm, từng toán, từng tập đoàn, người ta bỏ qua những đặc điểm riêng, những giá trị và đóng góp của mỗi cá nhân, và người ta rơi vào tệ đơn giản hóa và khái quát hóa. Người ta nói về những người lao động, những viên chức, những nhà khoa học, những nông dân, những nghệ sỹ, những người nhập cư, những nhà tư sản, những người nội trợ,… Người ta xây dựng nên những luận thuyết phù hợp với định kiến của họ. Và tai hại không phải chỉ ở chỗ các luận thuyết đó sai, mà chính là ở chỗ chúng đẩy con người đến chỗ trở thành như luận thuyết nói.”

“Con hiểu.”

“Chúng ta sẽ thực hiện được một bước đi dài, nếu ta chấm dứt khái quát hóa những điều liên quan đến con người, và nhìn nhận mỗi con người một cách riêng biệt, giống như đó là một phần của cái tổng thể mà ta xem xét, của loài người hoặc của toàn vũ trụ.”

Tôi nhìn ra phía xa của cái thung lũng trải dài mấy cây số. Đối diện với chúng tôi, ở phía bên kia khoảng trống, địa hình được tạo nên bởi một quả đồi khác, gần như một trái núi khác, cũng cao gần như chỗ chúng tôi ngồi và cách mấy trăm thước, tạo ra một khoảng không mà sâu dưới đáy là thung lũng. Một số khóm dân cư ở phía dưới thấp, nhưng một số khác lại treo lơ lửng ở nơi cao hơn chỗ chúng tôi, làm chúng tôi có cảm giác như đang trôi giữa hai thế giới. Một làn gió nhẹ đem đến luồng hơi ấm dễ chịu và một mùi hương gì đó mà tôi không nhận biết được.

“Thôi, ta về thôi”, ông già nói.

“Xin thầy để con một mình ở đây.”

“Sao?”

“À không, con đùa thôi…”

“Trong việc thực hiện cái dự định mà anh thích, anh không nên ghép mình vào một lớp người, anh hãy chỉ là anh thôi, để thể hiện năng lực và những giá trị của anh.” 

“Đúng thế, con sẽ phải ghi nhớ điều đó.”

“Phải rồi.”

“Thầy biết không, con đã nói sơ sơ về dự định với hai người gần con, và họ có phần làm con giảm nhiệt tình.”

“Vì sao?”

“Một người nói nghề đó đóng kín và con sẽ không tạo dựng được vị thế bằng cách đó, khi không có bằng cấp và các mối quan hệ. Người kia phản bác rằng khó mà thành nghề được trong ngày một ngày hai ở dạng hoạt động này, nếu khởi đầu không thuận lợi, và rằng con hầu như không có cơ hội nào để thành sự.”

“Tất cả những người có một dự định nào đó đều gặp vấn đề như vậy.”

“Nghĩa là…?”

“Khi anh nói với mọi người về một dự định, anh luôn gặp ba loại phản ứng: loại trung tính, loại cổ vũ và loại tiêu cực, muốn anh bỏ cuộc.”

“Cái đó thì rõ…”

“Anh cần tránh xa những người mà anh cảm thấy có thể làm anh nản chí. Trong mọi trường hợp, đừng tâm sự với họ về những dự định của anh.”

“Vâng, nhưng mặt khác, có thể cũng cần những người mở mắt cho ta nếu ta đi con đường sai.”

“Để làm việc đó, anh chỉ nên hỏi những người trong lĩnh vực mà anh quan tâm. Nhưng anh không được tin những người tìm cách làm anh nản lòng vì những ý đồ của họ. Chẳng hạn, có những người cảm thấy tốt hơn nếu anh gặp không may, và vì thế họ làm mọi việc để anh không khá lên được. Hoặc có những người khác lại ghét việc anh thực hiện được ước mơ của anh, vì việc đó cho thấy họ thiếu dũng cảm để thực hiện ước mơ của họ. Còn có những người cảm thấy những khó khăn của anh làm họ cao giá hơn, vì họ sẽ có cớ giúp anh. Trong trường hợp này, những dự định của anh như cắt cỏ dưới chân họ, và họ sẽ làm mọi cách để cản trở anh. Thực ra thì họ làm điều đó một cách vô ý thức chứ không có chủ định rõ ràng. Tuy nhiên, cũng không nên tâm sự với họ về kế hoạch của anh. Họ sẽ làm anh mất niềm tin vào chính mình. Anh còn nhớ hôm qua chúng ta đã nói về đứa trẻ tập đi không nản chí mặc dù thất bại nhiều lần không?”

“Dạ có.”

“Nếu nó kiên trì và thành công, đó rõ ràng là vì không có bậc cha mẹ nào trên đời lại nghi ngờ khả năng con họ đi được, và không ai trên đời lại đi làm nó nản chí. Nhưng một khi nó đã trưởng thành thì rất nhiều người cản trở nó thực hiện ước mơ.”

“Chắn chắn thế.”

“Chính vì thế mà anh nên tránh xa những người hoặc không nói với họ về những dự định. Nếu không, anh sẽ rơi vào đám hang triệu người sống cuộc đời không như mong muốn.”

“Con hiểu.”

“Ngược lại, một hay hai trong những người chung quanh tin vào anh sẽ là nhân tố tích cực.”

“Có ai tin con?”

“Khi người ta lao vào một kế hoạch có vẻ may rủi, chẳng hạn muốn đổi nghề, người ta sẽ trải qua những thăng trầm. Người ta tin tưởng, ham thích, rồi bỗng nhiên lại nghi ngờ, không tin tưởng nữa, không cảm thấy mình có đủ khả năng, rồi sợ thay đổi, sợ những điều chưa lường hết. Nếu người ta đơn độc trong những thời khắc đó, rất có khả năng người ta sẽ bỏ cuộc. Nếu bên anh có một người tin anh, tin rằng anh có khả năng thực hiện dự định, và làm cho anh cảm thấy như thế mỗi khi anh gặp người đó, thì những ngờ vực của anh sẽ tan biến, những nỗi sợ của anh sẽ tiêu tan như có phép màu. Lòng tin vào anh mà người đó thể hiện sẽ lan sang anh. Nó truyền cho anh sức mạnh để thành công và cho anh nguồn năng lượng dời non. Người ta sẽ mạnh lên hàng chục lần khi không còn đơn độc với dự định của mình. Nhưng hãy hiểu tôi cho đúng: không cần người đó phải giúp anh hay cho anh lời khuyên. Không, điều quan trọng nhất là người đó tin vào anh. Mà anh sẽ rất ngạc nhiên khi biết được có bao nhiêu người nổi tiếng đã được lợi từ sự ủng hộ ban đầu như vậy.”

“Con không tin rằng con có một người như vậy ở gần…”

“Nếu vậy thì hãy nghĩ về một người nào đó ở xa hơn, có thể là ông hay bà, hoặc một người bạn thời niên thiếu, kể cả khi anh không gặp người đó thường xuyên. Nếu anh thực sự không tìm ra người như vậy thì có thể nghĩ đến cả người đã khuất, người khi còn sống đã từng yêu anh. Hãy nghĩ về người đó và nói với chính mình: “Mình biết nơi người đó đang ở. Nếu người đó thấy mình tiến hành dự định, người đó sẽ tin mình.” Mỗi khi anh cảm thấy không tin tưởng, hãy nghĩ về người đó và thấy người đó đang động viên anh, vì người đó biết anh sẽ thành công.”

“Vậy thì con sẽ chọn bà của con. Con đã luôn luôn thấy trong cái nhìn của bà rằng bà tự hào về con. Khi con bị điểm kém ở trường, cha mẹ con thường hay mắng con, nhưng bà thì nói: “Cái đó không nghiêm trọng. Bà tin rằng lần sau cháu sẽ được điểm tốt.””

“Đó là một ví dụ tốt. Có những người tin vào Thượng Đế và nhận được sức mạnh để hành động. Napoléon chẳng hạn, đã từng tin rằng ông ta có sao chiếu mệnh tốt. Trong hầu hết những trận đánh, thậm chí ngay cả khi đang lâm vào tình cảnh tồi tệ, ông ta vẫn tin rằng ông ta sẽ thắng. Điều đó làm ông ta hết sức lạc quan và cho ông ta sự quyết đoán mạnh mẽ.”

“Khi con còn nhỏ, con có một đứa bạn gái rất yêu quý con mèo của nó. Nó nói là nó thấy trong ánh mắt của con mèo sự động viên trong mọi tình huống. Cha mẹ bạn ấy thì rất khó tính và lạnh lùng. Mỗi khi bạn ấy buồn, họ không phải là những người để chia sẻ. Khi đó, nó đi tìm con mèo, vuốt ve nó và kể cho nó nghe về mọi điều không may. Con mèo nhìn vào mắt bạn ấy với cái nhìn rất sâu và hiền từ, và kêu “rù-rù”, làm cho bạn ấy tự tin trở lại.”

“Rất có thể. Con vật thường có tình cảm vô điều kiện đối với chủ, và tình cảm đó có thể giúp người chủ rất nhiều. Anh biết đấy, người ta bắt đầu tiến hành những nghiên cứu về tình yêu, và người ta phát hiện ra những điều rất đặc biệt. Tại một trường đại học ở Mỹ, các nhà nghiên cứu đang theo dõi sự phát triển của các tế bào ung thư đựng trong một chiếc hộp de Petri đã gọi những sinh viên tình nguyện đến phòng thí nghiệm, bảo họ đứng quanh cái hộp và yêu cầu họ “gửi tình yêu” đến những tế bào ung thư. Các sinh viên đã làm vậy, và các nhà nghiên cứu đã kiểm tra một cách khoa học thấy số tế bào ung thư giảm đi. Họ không thể giải thích được hiện tượng này, và cũng không nói được các sinh viên đã “gửi tình yêu” như thế nào, nhưng kết quả thì không thể bàn cãi: số tế bào ung thư đã giảm.”

“Kỳ quặc.”

“Phải, tình yêu chắc chắn có nhiều tác động mà người ta đã bắt đầu cố công phát hiện. Nhưng đa số các nhà khoa học không thích những thí nghiệm loại này, vì họ ghét việc nêu ra bằng chứng về những hiện tượng mà họ không giải thích được. Phải thừa nhận rằng điều này là không hay, nếu ta ở vào vị trí của họ. Còn tôi, kẻ đã ở cuối đời, tôi tin rằng tình yêu là giải pháp cho hầu hết những vấn đề mà con người gặp phải trong cuộc sống. Cái đó có vẻ là một ý tưởng đơn giản, được thừa nhận, nhưng hầu như không có ai thực hiện, vì nhiều khi khó mà yêu được.”

“Cần nói rằng có những người không muốn yêu thương. Đôi khi con có cảm giác là một số người làm mọi cách để người khác không yêu mình.”

“Một số người độc ác vì không yêu chính bản thân mình. Những người khác bị tổn thương do họ đã phải chịu quá nhiều đau khổ, và muốn trả thù cả thế giới. Có những người bị người khác gây hại và tính đến việc tự vệ bằng thái độ thiếu thiện chí. Một số người bị lừa nên trở nên khép kín, và nói rằng trong tương lại họ sẽ không bị lừa nữa, nếu không chờ đợi điều gì từ người khác. Lại có những người rất ích kỷ vì tin rằng mọi người đều vậy, và họ tin rằng họ sẽ hạnh phúc hơn nếu vượt lên trên người khác. Điểm chung của tất cả những người đó là khi họ thấy anh yêu quý họ thì họ sẽ ngạc nhiên, vì họ không ngờ được điều đó. Đa số thì không tin điều đó ngay từ đầu, vì điều đó đối với họ là không bình thường. Nhưng nếu anh kiên trì chứng tỏ với họ điều đó, chẳng hạn bằng những hành động giúp họ vô tư, thì cái đó có thể đảo lộn cách họ nhìn thế giới, kéo theo việc họ thay đổi quan hệ với anh.”

“Con muốn thừa nhận như vậy, nhưng không dễ đến với người khác ngay cả khi có những ấn tượng tốt về thái độ của họ.”

“Sẽ dễ hơn nếu anh biết một điểm chung khác giữa tất cả những người đó là trong mỗi hành động của họ đều có một ý định tốt. Họ tin rằng điều họ làm là đúng đắn nhất để làm, thấy đó là điều khả dĩ duy nhất. Đó là vì, ngay cả khi việc họ làm là đáng phê phán, sự khuyến khích đối với họ vẫn có thể chấp nhận được.

Để có thể quý mến một người như vậy, cần phân biệt những hành động của họ. Hãy tự nhủ rằng, mặc dù thái độ của họ là đáng chê, nhưng vẫn có một phần rất sâu bên trong mà ngay họ cũng không nhận ra, là một cái gì đó tốt. Nếu anh cảm nhận được cái tốt đó và trân quý nó, anh sẽ làm cho người đó kết nối được với cái phần tốt nhỏ bé đó của chính họ.

Anh biết rằng yêu thương là cách tốt nhất để tạo ra sự thay đổi ở người khác. Khi anh đến với một người mà lại trách cứ về việc người đó làm, anh sẽ đẩy người ta đến chỗ cố thủ lập trường của họ, và không nghe các luận cứ của anh. Cảm thấy bị bác bỏ, người đó sẽ bác bỏ những suy nghĩ của anh. Nếu ngược lại, anh đến với người ta khi tin rằng ngay cả khi điều người đó làm hoặc nói là đáng chê, thì sâu bên trong, người đó vẫn có phần tốt, và có ý định tốt khi làm việc đó, anh sẽ dẫn dắt người đó đến chỗ thoải mái và sẵn sàng lắng nghe những điều anh nói. Đó là cách duy nhất để tạo cho người đó một cơ hội thay đổi.”

“Cái đó làm con nhớ lại một chuyện con đã nghe trên radio cách đây mấy năm. Việc đó xảy ra ở Pháp. Một phụ nữ trên đường về nhà đã bị một kẻ côn đồ theo dõi. Khi cô ấy vừa cố mở được cửa thì tên kia đã lao vào căn hộ. Hắn ta có súng, còn cô thì không có gì để tự vệ, cũng không thể kêu cứu vì hắn dọa bắn, cô đành phải gợi chuyện hắn. Cô cố nói, cố tìm cách làm cho hắn lên tiếng một cách vô vọng. Cô ấy kể lại rằng khi đó hắn hơi mất bình tĩnh, vì không lường một thái độ như thế từ phía nạn nhân. Cô ấy cứ thế nói, đặt ra các câu hỏi và trả lời, cố giấu sự sợ hãi đang xâm chiếm cô. Trong thời khắc tuyệt vọng, cô bỗng có một trực cảm lành khi nói với hắn: “Nhưng tôi không thể hiểu được tại sao anh lại làm những việc như vậy trong khi anh không phải kẻ xấu.” Sau này cô ấy nói với cánh nhà báo rằng khi đó kẻ tấn công đã khóc nấc lên và kể với cô về cuộc đời khốn khổ của hắn, trong khi cố cố gắng lắng nghe và cố giấu nỗi sợ trong lòng. Cuối cùng thì hắn bỏ đi.

“Anh vừa dẫn một trường hợp đặc biệt, nhưng đúng là mọi người có xu hướng xử sự theo cách người khác nhìn họ, tự đồng nhất với những gì người khác cảm thấy ở họ. Cần hiểu rằng mỗi người chúng ta đều có những ưu và khuyết điểm; người ta chú tâm vào cái gì thì cái đó có xu hướng được tăng cường và mở rộng. Khi ta chĩa máy chiếu lên những ưu điểm của một người, ngay cả khi những ưu điểm đó là không đáng kể, chúng cũng sẽ được củng cố và phát triển đến mức trở thành nổi trội. Do đó, điều quan trọng là phải có quanh ta những người tin vào ta, vào ưu điểm và năng lực của ta.”

(còn tiếp)

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s