NGƯỜI MONG HẠNH PHÚC 04 Laurent Gounelle

FRANCENguyên tác: L’homme qui voulait être heureux, NGUYỄN TRẦN SÂM dịch từ nguyên bản tiếng Pháp.

MƯỜI SÁU

“Trong cái kế hoạch mà anh nghĩ đến và cảm thấy chưa thật phù hợp với anh còn khía cạnh gì nữa không?”

“Vâng, vẫn còn một điểm nữa.”

“Là gì?”

“Trong dự định này, con mong sẽ kiếm được tiền, đủ để con có thể tậu một ngôi nhà có vườn, và con thấy không dễ chịu với ý nghĩ đó. Con không chắc mình là người có thể kiếm được tiền, cũng không có ham muốn đó ở sâu trong tâm trí. Tóm lại là có gì đó làm con không vui.”

“Đây rồi!”

“Sao ạ?”

“Tôi biết là sớm muộn gì ta cũng phải nói đến cái đó.”

“Vì sao?”

“Tiền là trung tâm của mọi ước mơ, mọi dự định, mọi nỗi sợ hãi, sự thù ghét, ham muốn, ghen tị, những mặc cảm, sự đắc thắng, và bao nhiêu thứ khác. Nó rất kỳ lạ, và ta chưa bao giờ hiểu hết nó.”

“Con chưa hề biết rằng một từ đơn giản như thế mà ẩn giấu bao nhiêu thứ trong đó.”

“Nào, hãy nói anh bận tâm điều gì về tiền?”

Ông vẫn giữ giọng khoan dung, nhưng tôi cảm thấy ở ông sự hóm hỉnh, dường như ông đã đi suốt câu hỏi mà ông sẽ không bị bất ngờ tí nào về vấn đề mà tôi sắp nêu ra, cho dù đó là gì đi nữa.

“Phải nói là con bị chia tách trong chủ đề này: dường như một phần trong con thì muốn kiếm được tiền, trong khi phần khác lại không muốn, và coi cái đó là ô uế.”

“Như vậy vấn đề là: làm thế nào để dung hòa hai phần của anh, đúng không?”

“Thật buồn cười khi đặt vấn đề như vậy, nhưng có thể nói là đúng như thế.”

“Thế thì, để bắt đầu, hãy nói cho tôi biết: cái phần có ham muốn kiếm tiền của anh nó cần gì?”

“Tôi nghĩ tiền sẽ cho con một kiểu tự do nào đó: con có cảm giác rằng người ta càng giàu thì càng ít lệ thuộc kẻ khác, và tiếp theo, người ta sẽ thoải mái về thời gian, tự do trong hành động, không cần phải luôn tính toán hơn thiệt.”

“Cái đó không hoàn toàn sai. Còn gì nữa?”

“Vâng, cái đó còn cho con tiện nghi vật chất. Con có nhược điểm là cứ nghĩ rằng sống yên bình trong ngôi nhà đẹp thì dễ hạnh phúc hơn là trong một căn nhà nhỏ hai ngăn bẩn thỉu quay hướng bắc trong một khu phố ồn ào và ô nhiễm.”

“Không có gì sai trong việc tìm tiện nghi vật chất, và đúng là cái đó sẽ làm mọi việc dễ dàng. Nói chính xác hơn thì tiện nghi vật chất không mang đến hạnh phúc, nhưng việc thiếu nó thì dễ làm hỏng mất hạnh phúc.”

“Cái đó con thấy rất rõ.”

“Tuy nhiên, tôi vẫn nhấn mạnh rằng tiện nghi vật chất không thể mang lại hạnh phúc. Rất nhiều người tỏ ra đồng ý với quan điểm này, đôi khi họ còn cao giọng và mạnh mồm tuyên bố như thế, nhưng sâu bên trong, một cách vô ý thức, họ vẫn tin rằng cái đó làm con người hạnh phúc. Vì vậy, họ lên án những người phô bày sự giàu sang nhưng sự lên án đó chẳng qua do ghen tị, vì một phần bên trong của họ muốn những thứ đó, và họ tin rằng những người kia sướng hơn họ. Niềm tin này được che đậy bởi một lớp sơn, nhưng nó thực sự có ở những kẻ luôn khẳng định điều ngược lại.”

“Vâng, có lẽ thế.”

Tôi bỗng nhớ đến một cô bạn, người hay phê phán gay gắt những người giàu và những người hay nói về vật chất, và tôi cho rằng đó là giả vờ. Việc cô ta không thể thờ ơ trước những người đó đã để lộ ra một điều rằng tiền bạc của họ đã tác động đến cô ta, một người không vô tâm với tiền bạc.

“Thực tế là chính cái niềm tin này gây ra những điều tồi tệ, vì nó đẩy mọi người vào một cuộc đua vô tận: người ta luôn muốn một thứ gì đó, xe hơi, quần áo đẹp, hay bất kỳ thứ gì khác, và người ta tin rằng chỉ cần có thứ đó là đủ. Người ta thèm muốn đến phát điên, và cuối cùng, khi đã tậu được, người ta lập tức quên nó, để rồi lao vào việc tìm cách có được một thứ khác, thứ mà bây giờ dường như lại chỉ cần có nó là đủ… Cuộc săn tìm này không có hồi kết. Mọi người không hề biết rằng nếu họ được lái một chiếc Ferrari, được ngủ trong một ngôi nhà ở Hollywood và được đi du lịch bằng máy bay riêng thì họ vẫn tin rằng phải có một chiếc du thuyền nữa thì họ mới hạnh phúc. Chắc chắn rằng những người còn xa mới có được chiếc Ferrari thì rất bực tức và tự nhủ rằng họ chỉ cần giàu thêm một chút nữa thôi là sẽ hài lòng. Họ không mong có nhà ở Hollywood, mà chỉ cần có căn hộ rộng hơn chút xíu, và tin rằng khi đó họ sẽ thỏa mãn, không ham hố gì nữa. Họ tự lừa chính mình: dù họ đang ở bất kỳ điều kiện vật chất nào, họ vẫn muốn có hơn những thứ đang có. Đó đúng là một cuộc đua bất tận.”

Những lời này đã gây ra tiếng vọng đặc biệt trong tôi, làm tôi nhớ lại những lễ Noël thuở nhỏ. Tôi xốn xang viết thư gửi ông già Noël, kèm theo danh sách những đồ chơi mà tôi hy vọng có được. Suốt mấy tuần, tôi sốt ruột chờ đến cái ngày mà cuối cùng tôi cũng có được những thứ đó. Sự xốn xang của tôi đạt đến cực độ trong đêm lễ: mắt tôi dán chặt vào cây thông mà dưới chân nó tôi đang tưởng tượng ra niềm hạnh phúc của mình vào buổi sáng hôm sau. Tôi đi ngủ trong cảm giác là đêm trở nên vô tận, và thật sung sướng khi sáng hôm sau thức dậy. Cái ngày trọng đại cũng đã đến! Tôi đẩy cửa phòng khách và phát hiện ra những gói quà rực rỡ màu sắc dưới gốc cây thông đang tỏa sáng. Cả người tôi tràn ngập niềm vui. Trong tâm trạng hồi hộp, tôi mở tất cả các gói, và trải qua những giây phút huy hoàng nhất trong ngày khi chơi với những thứ mà tôi vừa được nhận, rồi nghĩ cách chuồn khỏi bữa ăn trưa bất tận của gia đình, để lại người lớn với những câu chuyện tẻ nhạt. Nhưng tôi cũng nhớ rằng khi chiều đến, và mặt trời sà xuống chân trời, niềm vui của tôi nhanh chóng tắt lịm. Những đồ chơi mới của tôi đã không còn tạo ra niềm vui như trước đó. Tôi đâm tiếc sự xốn xang của đêm hôm trước. Tôi muốn nó hồi sinh. Tôi nhớ lại một năm trước sự mơ mộng về những đồ chơi cũng đã từng làm tôi hạnh phúc hơn là chính những đồ chơi. Sự chờ đợi vui hơn là kết quả.

Tôi kể với nhà hiền triết, và ông nói:

 “Điều dối trá lớn nhất của các bậc cha mẹ không phải là khẳng định rằng có ông già Noël, mà là ngầm khẳng định rằng quà cáp mang đến hạnh phúc.”

Tôi nhìn xuống những người nông dân dưới thung lũng và tự hỏi liệu phong tục của họ có bắt họ mỗi năm một lần đem hạnh phúc đến cho con cái bằng việc trao những món quà vật chất hay không.

“Anh đã kể với tôi”, ông già nói tiếp, “những lý do làm cho một nửa của anh mong làm ra tiền. Bây giờ thì hãy nói với tôi về nửa kia, nửa bác bỏ ý định đó.”

“Con cho rằng tiền bạc làm con có phần khó chịu. Đôi khi con có cảm giác rằng nó chính là cái làm thế giới này trở nên thấp hèn, rằng nó là trung tâm của mọi sự bận tâm của loài người.”

“Nhiều người đang bị lạc hướng, và điều đó thật tệ, vì thực ra việc phát minh ra tiền là tốt.”

“Sao thầy lại nói thế?”

“Người ta quên rằng về nguồn gốc thì tiền không là gì khác ngoài phương tiện để làm cho sự trao đổi giữa những con người trở nên dễ dàng: trao đổi hàng hóa, và trao đổi cả tri thức, dịch vụ, tư vấn. Trước khi có tiền, người ta trao đổi trực tiếp các vật phẩm. Người có nhu cầu về một thứ gì đó buộc phải tìm một người quan tâm đến thứ mà người đó có để đánh đổi. Không dễ… Trong khi đó, việc sáng tạo ra tiền cho phép định giá mỗi mặt hàng, mỗi loại dịch vụ, và sau đó lượng tiền tích góp được bởi người đã cung ứng những thứ đó sẽ cho người đó cơ hội đạt được những loại hàng hóa và dịch vụ khác. Không hề có gì xấu trong chuyện này. Theo một cách nào đó, có thể nói rằng càng nhiều tiền được luân chuyển thì càng có nhiều sự trao đổi giữa những con người, và càng…”

“Có vẻ ghê quá!”

“Có vẻ là phải như vậy. Trao cho người khác quyền sử dụng những cái mà anh có thể làm ra, kết quả công việc của anh, sản phẩm trí tuệ của anh, và nhận trong cuộc trao đổi những thứ mà người khác làm ra được, còn mình không làm được. Tiền không phải là thứ mà người ta buộc phải tích góp, mà là thứ mà người ta phải dùng. Nếu mọi người xuất phát từ nguyên lý đó thì sẽ không xảy ra sự hỗn loạn, vì trong hoạt động dịch vụ mà con người có thể cung ứng cho nhau không hề có một giới hạn nào. Chỉ cần yêu thích hoạt động sáng tạo của con người và khuyến khích họ biến các dự định thành hiện thực là đủ.”

“Nhưng thế thì tại sao ngày nay tiền lại trở thành một thứ dơ bẩn?”

“Để hiểu điều đó, trước hết cần trả lời được câu hỏi quan trọng sau đây: người ta kiếm tiền và tiêu tiền như thế nào? Đồng tiền là chính đáng khi nó đến từ việc đem hiểu biết và kỹ năng của chúng ta vào lao động, từ việc hiến dâng những điều tốt đẹp nhất của chúng ta. Khi đó người làm ra tiền sẽ được tận hưởng sự thỏa mãn thực sự. Nhưng đồng tiền nhận được bằng cách bóc lột người khác, chẳng hạn khách hàng hoặc đồng nghiệp, sẽ sinh ra cái mà người ta gọi tượng trưng là năng lượng tiêu cực – cái mà các pháp sư gọi là “Húcha” – và cái Húcha này làm mọi người trở nên thấp hèn, làm vấy bẩn linh hồn, và kết cục là làm cả người bị bóc lột lẫn kẻ bóc lột khốn khổ. Kẻ bóc lột có thể thấy mình được một cái gì đó, nhưng y tích góp trong mình cái Húcha đó, và nó ngày càng cản trở y sống hạnh phúc. Cái đó hiện ra nét mặt khi con người già đi, bất kể người đó đã tích góp được bao nhiêu tiền của. Trái lại, người kiếm tiền bằng cách dâng hiến những điều tốt đẹp và tôn trọng mọi người sẽ có thể làm giàu trong vinh hiển.”

Tôi không thể không nghĩ đến “Chân dung Dorian Gray”, tiểu thuyết tuyệt vời của Oscar Wilde, kể về một kẻ làm điều ác mà mỗi hành vi xấu đều hiện ra trên bộ mặt của một nhân vật được vẽ trên tấm bảng, cho đến khi bộ mặt đó trở thành ghê tởm.

“Thầy cũng nói cách người ta xài tiền là quan trọng…”

“Đúng, nếu người ta dùng đồng tiền kiếm được để cho người khác cơ hội thể hiện tài năng và hiểu biết của họ, mời gọi mọi người sử dụng dịch vụ của họ, thì tiền sẽ sinh ra năng lượng tích cực. Ngược lại, nếu người ta tự bằng lòng với việc tích góp tiện nghi vật chất thì cuộc sống sẽ mất ý nghĩa, con người sẽ khô héo dần. Hãy nhìn quanh anh: những kẻ sống chỉ để tích góp tiền mà không cho ai luôn bị tách khỏi mọi người. Họ không có mối quan hệ mang tính người thực sự. Họ không có khả năng quan tâm chân thành hay yêu thương người khác. Và, hãy tin tôi, khi con người đến mức đó thì sẽ không hạnh phúc.”

“Thật buồn cười khi con nghĩ: con từ đầu kia thế giới đến gặp một bậc thầy tâm linh, và ông thầy đó lại nói về tiền!”

“Đúng ra thì chúng ta không thực sự nói về tiền.”

“Sao lại thế?”

“Chúng ta đang nói về những giới hạn mà anh tạo ra trong cuộc sống. Tiền chỉ là một ví dụ về những khả năng của anh.”

Tôi đung đưa hai chân trên khoảng không và ngắm nhìn không gian bao la mở ra phía trước. Một làn hơi ấm lại mơn trớn lỗ mũi tôi với mùi hương nhẹ nhàng và thì thầm những điều bí mật vào tai tôi.

“Tóm lại, có lẽ là hôm nay con đã kiếm đủ tiền và sẽ không cần thêm nữa. Nhưng vì thầy quan niệm rất thoáng về tiền, thầy hãy nói rõ tại sao thầy không trở nên rất giàu có?”

Ông già cười trước khi trả lời tôi:

“Vì ta không có nhu cầu.”

“Thế thì sao thầy lại giúp con thấy thoải mái với đồng tiền?”

“Vì anh phải kiếm được tiền trước khi thoát ly khỏi nó.”

“Thế nếu con đã thực sự thoát ly khỏi nó?”

Sau một phút im lặng, ông già nói:

“Đó không phải là thoát ly, đó là từ bỏ.”

Lời ông vang vọng trong tôi; tôi cảm thấy như tiếng vọng lời ông ngân rung mãi không thôi. Tôi phải thừa nhận rằng ông lại nói đúng.

“Trong triết học Hindu”, ông nói tiếp, “người ta coi việc làm ra tiền là một hoạt động có ý nghĩa, và nó tương ứng với một trong các giai đoạn của sự tồn tại. Cần tránh trì trệ; phải biết hướng tới những điều chưa có để có cuộc đời thành công.”

“Cuộc đời như thế nào thì được coi là thành công?”

“Đó là một cuộc đời trong đó người ta được sống như ước nguyện, luôn hành động theo tinh thần các giá trị đã chọn, đem những điều tốt đẹp nhất của mình vào cái mình làm ra, sống hài hòa với người mình chung sống, và nếu có thể thì vượt lên trên chính mình, hiến dâng mình cho những điều cao cả hơn là bản thân mình, đem lại một cái gì đó cho nhân loại, cho dù là điều khiêm tốn nhất, nhỏ bé nhất. Nhẹ như chiếc lông chim bay trong gió. Dù chỉ là một nụ cười với người khác cũng tốt.”

“Điều đó đỏi hỏi người ta phải biết được những ước nguyện của mình.”

“Đúng thế.”

“Làm thế nào mà người ta biết được hành động như thế có tuân theo các giá trị đã định hay không?”

“Trên cơ sở của sự cảm nhận: cái gì đi ngược lại các giá trị đã chọn thì nó sẽ làm cho anh cảm thấy bất an, thấy khó chịu ít nhiều, hoặc cảm giác tội lỗi. Đó là một dấu hiệu dẫn anh đến chỗ tự hỏi mình: liệu những hành động của anh có mâu thuẫn với những điều mà anh cho là quan trọng hay không? Cuối mỗi ngày, anh cũng có thể tự hỏi: liệu anh có quá tin vào những việc mình đã làm hay không, cho dù đó là những việc thứ yếu. Điều rất cần biết là con người ta không thể tiến bộ trong việc làm người, thậm chí không thể khỏe mạnh khi hành động chà đạp lên các giá trị.”

“Thật buồn cười là thầy đụng chạm đến mối liên hệ với sức khỏe, vì con nhớ lại khi con còn là sinh viên con đã làm thêm vào dịp hè việc tư vấn từ xa cho một công ty bảo hiểm. Con cần gọi điện cho một số người để tư vấn cho họ đóng một loại bảo hiểm. Công ty đó tuyên truyền rằng ba phần từ số khách hàng đã được lợi từ dạng bảo hiểm đó trong những dịch vụ kể cả dùng thẻ ngân hàng mà không biết. Và khỏi phải nói, bọn con đã vận động bao nhiêu người sử dụng dạng bảo hiểm này. Mùa hè đó, lần đầu tiên trong đời, con bị nhiễm eczema khủng khiếp. Thầy thuốc không thể nào xác định được nguyên nhân, và các cách điều trị đều không thay đổi được gì; con đành bỏ họ. Eczema tiếp tục lan ra, cuối cùng con đành phải dừng làm việc, vì xấu hổ khi phải đến văn phòng trong tình trạng đó. Tám ngày sau, mọi thứ tự nhiên biến hết.”

“Rõ ràng không thể hoàn toàn tin chắc, nhưng có lẽ đó là thông điệp của cơ thể anh để báo hiệu rằng anh đang hành động trái với các giá trị của anh là tôn trọng người khác, với lòng tin và sự trung thực.”

“Quả thật đó là những giá trị căn bản đối với con.”

“Tôi tin là như thế.”

“Thầy cũng nói là phải đưa những gì tốt đẹp nhất của bản thân vào sản phẩm mình làm?”

“Đúng, đó là một trong những chìa khóa của hạnh phúc. Anh biết đấy, con người thường thích buông thả, nhưng chỉ có thể tốt lên nhờ việc nghiêm khắc với bản thân. Thực sự là chỉ khi tập trung vào công việc mình làm để đưa kỹ năng và hiểu biết vào sản phẩm và luôn vượt qua những thách thức mới thì người ta mới cảm thấy hạnh phúc. Điều này đúng với mọi người, bất kể họ làm nghề gì và hiểu biết đến mức nào. Và hạnh phúc sẽ thực sự đạt được nếu công việc của ta đem đến cái gì đó cho người khác, cho dù là gián tiếp, cho dù là bằng cách rất khiêm tốn.”

Đúng vào thời điểm đó, ký ức đưa tôi trở lại bốn năm về trước. Tôi đang ở Maroc, tại Marrakech. Tôi đi dạo mát ở Djemaa el-Fna, vào cuối ngày. Màn đêm đang buông xuống trùm lên nơi đó một không khí huyền ảo. Rất nhiều những quầy hàng ăn đang đốt củi nổ lép bép để nướng thịt. Lửa chiếu ánh sáng lờ mờ lên đám khách qua đường, bập bùng soi vào những khuôn mặt và làm những bóng người lúc ngắn lúc dài như đang nhảy nhót. Mùi xúc xích nướng như muốn ganh đua với mùi của món couscous đang bốc khói. Những người bán hàng rong có mặt khắp nơi. Một số thì bán các mặt hàng bằng da vừa làm xong tại các hiệu đồ da ngay cạnh, và từ đó bốc ra mùi acide chua gắt. Một số khác thì bày bán những chiếc mâm đồng có hình chạm khắc phản chiếu ánh lửa lấp loáng, soi ánh vàng lên những khuôn mặt, những tấm khăn và những chiếc áo choàng. Tiếng người nói lao xao xen lẫn những âm thanh sôi động của những chiếc trống cơm và tiếng thổi sáo của những người điều khiển rắn.

Tôi đang bước đi, hai mắt mở to, bị cuốn hút bởi cảnh tượng khác thường, các giác quan đầy ắp hương vị, âm thanh và hình ảnh, thì bỗng một người đàn ông nhỏ bé, tuổi trạc ngũ tuần, gọi lại. Ông ta khá gầy, miệng cười rất tươi, gương mặt khô xạm vì nắng phương Nam. Ông ta ngồi trên một chiếc thùng gỗ đặt ngay trên mặt đất giữa một quầy bán thức ăn và một quầy bán đồ gốm. Tôi mỉm cười lại với ông ta và nhìn lên chiếc ghế mà ông ta chỉ cho tôi ngồi. Tôi hiểu ra ngay ông ta làm nghề gì. Một thợ đánh giày. Nụ cười của tôi vụt tắt, và người tôi như đông cứng lại. Tôi không bao giờ cảm thấy thoải mái khi nhìn nhận về những nghề mà người ta phải cố để làm cho xong việc. Nghề đánh giày có lẽ là nghề mà tôi thấy khó chấp nhận nhất, vì người thợ phải thực hiện khi khách hàng ở đó, làm ngay trước mặt họ, dưới chân họ. Chỉ riêng bộ dạng khúm núm của họ cũng đã làm tôi khó chịu: khách hàng ngồi trên ghế cao, làm chủ tình huống; người thợ lúi húi bên dưới, lom khom, ngồi xổm hoặc quỳ hẳn xuống đất. Tôi không bao giờ gọi người làm dịch vụ đó.

Người đàn ông nhắc lại lời mời và vẫn nhoẻn cười rất tươi. Người phương Tây mà tôi đang thủ vai chắc chắn là khách hàng lý tưởng đối với ông ta. Nhưng cái vẻ ngoại quốc của tôi hiện đang nghiêng về trạng thái chán ngán. Tôi không muốn để những đồng bào của ông ta nhìn thấy một người phương Tây đang ngồi trong điệu bộ mà tôi cho là ngạo nghễ để cho một người trong số họ đánh giày. Đó là một bản mẫu của chế độ thực dân. Ngoài ra, tôi không muốn ông ta cảm thấy sự chán ngán của tôi hay hiểu nhầm là tôi đang lưỡng lự. Có lẽ vì tôi không tỏ ra thờ ơ với lời đề nghị của ông ta được mà ông ta đang hy vọng mời được tôi. Ông ta đứng lên và, vẫn mỉm cười, đi lại gần tôi. Tôi không kịp nói lời từ chối: ông ta đã cúi xuống chân tôi, sờ nắn đôi giày đã khô xỉn của tôi để đưa ra lời chẩn bệnh và hứa sẽ đem lại ngay sự bóng bẩy cho chúng. Vì kém cỏi trong việc từ chối khi người khác nài nỉ, tôi đành ngồi, trái với ý mình, lên chiếc ghế mà lúc đó tôi coi là sự ô uế. Tôi không dám nhìn mọi người chung quanh vì sợ bắt gặp những cái nhìn khinh bỉ. Ông kia đã bắt đầu hành sự trên đôi giày của tôi. Cầm nửa trái chanh, ông ta bắt đầu xát mạnh lên lớp da xỉn. Trong tình trạng của tôi, không còn gì có thể làm tôi chú ý được nữa. Tôi cho rằng ông ta có bóp nát một quả chuối và bôi lên giày của tôi thì tôi cũng không ngạc nhiên. Ông ta làm việc thật miệt mài và hăng hái. Rất tự tin, ông ta hoàn toàn làm chủ các thao tác, hết xát bằng chanh lại đến chà bằng bàn chải. Cách đó một đoạn, tiếng sáo của những người điều khiển rắn đang ca khúc nhạc bi ai không dứt. Tôi hơi thả lỏng một chút. Chúng tôi trao đổi vài lời, nhưng ông ta rất chú tâm vào công việc, và luôn giữ một nụ cười khó tả. Ông ta dùng giẻ bôi một thứ kem đen đen lên da giày rồi xát cho kem ngấm vào da. Rồi ông ta đánh bóng bằng một chiếc bàn chải mềm, và khi đôi giày của tôi dần hồi sinh, nụ cười của ông ta cũng nở rộng dần, để lộ hàm răng trắng bóng rất tương phản với nước da nâu xạm. Khi giày của tôi đã sáng bóng như lúc mới mua, cặp mắt ông ta long lanh đầy vẻ mãn nguyện. Tôi hoàn toàn quên mất sự khó chịu ban đầu. Niềm vui của ông ta lan sang tôi, và tôi bỗng thấy mình thật gần gũi với con người mà trước đó mười lăm phút tôi chưa hề biết. Tôi cảm thấy sự quý mến đối với ông ta dâng lên như một đợt sóng. Ông ta đưa ra một cái giá rất phải chăng, làm tôi khi trả thấy thật thoải mái, và trong phút phấn khích, ông ta mời tôi dùng trà thơm đựng trong li kim loại để chia vui và làm thân. Tôi bỗng nhận ra một sự thật hiển nhiên, một sự thật cay đắng, rằng con người này hạnh phúc hơn tôi, kẻ đang làm một nghề giá trị và có tài sản gấp nghìn lần ông ta. Con người này đang tỏa ra hạnh phúc qua từng lỗ chân lông trên làn da, và niềm hạnh phúc rực sáng quanh ông ta.

Chìm trong hồi tưởng về một câu chuyện cách đây bốn năm, mắt tôi bỗng rớm lệ.

“Sao thầy lại nói về lợi ích của những thử thách cần vượt qua để cảm thấy hạnh phúc trong việc đưa những hiểu biết của mình vào kết quả công việc?”

“Vì thử thách kích thích sự tập trung cao độ, và chính nó đẩy chúng ta đến chỗ phải hiến dâng những điều tốt đẹp nhất của ta cho những việc ta làm, và làm ta sau đó thực sự thỏa mãn. Đó là một điều kiện để thăng hoa trong hành động.”

“Thầy cũng nói rằng một cuộc đời là thành công khi người ra tạo ra mọi thứ trong sự hài hòa với chính bản thân. Nhưng làm thế nào mà người ta biết được có đúng thế không?”

“Hãy tưởng tượng anh sẽ chết ngay hôm nay, và anh đã biết việc đó được một tuần, Trong tất cả những việc mà anh làm trong tuần, anh sẽ vẫn làm việc gì khi biết mình sắp chết?”

“Ô, lại là một câu hỏi!”

“Đúng.”

“Cho là tuần cuối này có phần đặc biệt, thế thì con sẽ lưu ý việc gặp thầy. Chẳng còn điều gì quan trọng để thay đổi…”

“Thế thì hãy nhớ đến cái tuần trước khi anh tới Bali.”

“Ờ… được. Cho là… Con thấy là…”

Tôi thử lướt lại trong tâm trí cuộn phim về diễn biến của tuần đó bằng những câu hỏi. Tôi cố hình dung lại xem tôi đã làm gì trong những giờ nối tiếp nhau, và với mỗi hành động, tôi tự hỏi tôi có làm nó trong khi biết rằng tôi sẽ chết vào cuối tuần hay chưa. Tôi đã phải cần đến một lúc lâu mới có thể trả lời:

“Có khoảng 30% các hành động mà con vẫn sẽ làm.”

“Anh định nói với tôi là anh sẽ từ chối làm 70% những việc mà anh đã làm, nếu biết mình sắp chết?”

“Vâng, đúng vậy.”

“Thế là nhiều, quá nhiều. Thường thì người ta cũng hay làm những việc vô nghĩa, nhưng không phải với tỷ lệ như vậy. Thực sự là anh cần đảo ngược tỷ lệ: phải có khả năng khẳng định rằng, khi cái chết đến gần, thì anh vẫn tiếp tục làm 70%  những việc làm theo thói quen. Đó là một dấu hiệu của việc anh hành động trong sự hài hòa với chính mình.”

“Con thấy rồi.”

“Và anh sẽ nhận thấy rằng về độ khó của công việc thì không có gì để nói, nhưng về ý nghĩa của nó đối với anh thì có.”

“Rất tốt. Con đồng ý hoàn toàn với tất cả những điều đó, nhưng trong thực tế không phải lúc nào cũng có thể làm việc muốn làm.”

“Bao giờ cũng có sự lựa chọn.”

“Không, nếu con chỉ làm những việc phù hợp với con thì con sẽ mất việc…”

“Ít nhất anh có thể lựa chọn tuân theo nguyên tắc hoặc mất việc.”

“Nhưng khi đó con có nguy cơ chỉ tìm được công việc với mức lương thấp hơn. Con sẽ không đủ tiền để trang trải.”

“Thế thì anh chọn giữ lại căn hộ đang ở hoặc thuê cái khác rẻ hơn và có thể xa nơi làm hơn.”

“Gia đình và bạn bè con sẽ thất vọng nếu con ở xa hơn.”

“Thì chọn làm họ hài lòng hoặc làm họ thất vọng.”

“Có vẻ như…”

“Cần phải nói với anh rằng quyền lựa chọn thuộc về anh. Đôi khi trong cuộc sống người ta không có nhiều lựa chọn, đó là những thời khắc đau đớn, nhưng có những thời khắc như thế, và cuối cùng thì anh cũng phải quyết định anh sống cho cái gì. Bao giờ anh cũng được lựa chọn, và trong tâm trí phải luôn nhớ điều đó.”

“Đôi khi con có cảm giác là những người khác chọn thay cho con.”

“Thế thì anh có thể chọn việc để cho họ quyết định thay anh.”

“Con cũng đồng thời phát hiện ra rằng có những người được nhiều quyền chọn lựa hơn những người khác.”

“Người ta càng tiến bộ về nhận thức thì càng bỏ bớt được những định kiến hẹp hòi, và càng có nhiều lựa chọn. Và quyền lựa chọn, đó chính là tự do.”

Tôi nhìn ra khoảng không mênh mông trước mặt, một khoảng không vô biên, và khi cái nhìn mất hút ở tận chân trời, tôi bắt đầu mơ về tự do, và hít thật sâu làn không khí thấm đẫm một mùi hương ngây ngất.

“Anh nên biết rằng”, ông già nói tiếp, “con người không thể hạnh phúc nếu tự coi mình là nạn nhân của các sự kiện hay của bất kỳ thứ gì khác. Quan trọng là phải hiểu được rằng anh phải luôn luôn là người quyết định cuộc đời anh, dù nó có thế nào. Kể cả khi anh là một nhân viên hạng bét ở nơi anh làm việc, thì anh vẫn là người định hướng cuộc đời anh. Chính anh là người ra lệnh. Anh là chủ của số phận mình.”

“Vâng.”

“Và anh không được sợ sệt: anh sẽ thấy rằng khi chính anh làm chủ việc lựa chọn những hành động hài hòa với bản thân, tôn trọng những giá trị của chính mình và thể hiện được sự hiểu biết của anh thì anh sẽ trở nên cao quý trước mọi người. Những cánh cửa sẽ tự mở ra trước anh. Mọi thứ đều trở nên dễ dàng hơn, và khi đó không cần tranh đấu để vượt lên trên người khác.”

Chúng tôi im lặng một hồi lâu. Rồi ông đứng lên, và tôi phá vỡ sự im lặng.

“Con đã hỏi về vé máy bay. Con không thể đổi vé nếu không nộp phần giá phụ trội khá cao. Thầy đã nói là hôm nay thầy sẽ cho con biết có còn điều gì quan trọng để phát hiện đến mức phải gặp thầy vào ngày mai không.”

“Tôi nghĩ là anh thực sự còn phải trải qua một phép thử căn bản.”

“Và ngày mai, thầy đi vắng cả buổi sáng?”

“Đúng thế.”

“Con xin lỗi vì con cố nài, nhưng thầy hoàn toàn không thể sắp xếp để con có thể giữ lại vé máy bay đi buổi chiều mai hay sao?”

“Không.”

Thực sự là không còn cơ hội. Tôi đứng trước một sự lựa chọn rất khó khăn: liệu tôi phải hủy bỏ cuộc gặp cuối cùng mà tôi rất muốn có vì nó sẽ làm tôi tìm lại được chính mình hay là trả một cái giá rất cao để đổi vé về?

“Thầy sẽ làm gì khi ở vị trí của con? Thầy sẽ đổi chuyến bay?”

“Việc chọn là của anh.” Ông già nói với nét cười thỏa mãn trên môi, và cái nhìn hiền từ xoáy sâu vào cặp mắt dò hỏi của tôi.

Trong mắt ông, tôi thấy một chiều sâu vô hạn.

Ông bước đi về phía khu lán trại, với dáng đi chậm chạp và điềm tĩnh, rồi khuất sau những lũy tre xanh.

 

MƯỜI BẢY

Sáu trăm dollars! Việc này gần như là trả thêm lần hai cho vé về của tôi. Khó chấp nhận. Việc chi số tiền đó sẽ đóng băng tài khoản ngân hàng của tôi chỉ vì một phát hiện mà gần như đã thấy rõ rồi. Quan hệ giữa tôi với chủ ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng một thời gian. Chưa nói đến việc bay vào ngày chủ nhật sẽ làm tôi mệt mỏi khi về tới nơi, chỉ nghỉ được vài giờ trong sự mệt nhọc trước khi đi làm. Một viễn cảnh không mấy vui vẻ. Nhưng mặt khác, không phải ngày nào người ta cũng có thể gặp được một người như thầy Samtyang. Nhưng mà như thế thì cuộc hội kiến quá đắt! Tôi thực sự chẳng biết làm gì. Mỗi phương án đều có khó khăn, và tôi chưa đi đến quyết định.

Tôi ngồi trước tay lái và về đến gần Ubud. Tôi cần quyết ngay bây giờ, vì để đổi vé thì tôi phải đến công ty du lịch Kuta trước giờ đóng cửa. Tôi đến gần nơi tôi phải chọn lối rẽ.

Tôi thử cân đong những cái “vì” và “chống”. Vẫn vô ích. Trong cả hai tình huống, tôi đều có những cái được và mất. Không thể lựa chọn. Việc ra quyết định chưa bao giờ là thế mạnh của tôi. Tôi thậm chí không thể chọn hú họa, vì như thế thì không hay ho gì: sau dăm hôm tâm lý thay đổi, tôi sẽ phải chọn một cách hoàn toàn có ý thức!

Cuối cùng thì linh tính mách bảo tôi rằng tôi phải phóng hết tốc lực, và một ngày nào đó tôi sẽ tìm ra cách để bù lại sự thâm hụt. Trong khoảng sáu tháng hay một năm gì đó, tôi thậm chí sẽ phải quên đi trạng thái mơ màng này. Trong khi đó, chắc chắn tôi có thể được những lợi ích cá nhân lâu dài, có thể là cả đời, từ những điều mà ông lang đã dạy tôi. Tôi tới ngã tư và quả quyết rẽ về phía nam, đi Kuta. Như Oscar Wilde nói, chỉ có những kẻ điên mới không bao giờ hối tiếc về bất kỳ điều gì!

Tôi nhớ lại một lời bình của thủ tướng Mexico vào thời mà đất nước ông vướng vào những khoản nợ kếch sù. Một nhà báo đã hỏi ông việc đó có làm ông mất ngủ không. Ông đã trả lời rằng thâm hụt một ngàn dollar sẽ làm anh mất ngủ, nhưng thâm hụt một trăm tỉ dollar thì chỉ làm chủ ngân hàng mất ngủ. Tôi đi đến kết luận là nợ nần của tôi chưa có gì đáng kể.

Tôi mất khoảng một giờ để về đến Kuta. Tôi không thích nơi này. Đối với tôi, Kuta không phải là Bali. Đây là nơi có mật độ du khách lớn nhất, đặc biệt là dân lướt sóng Úc. Tối lại, cả thành phố trở thành một hộp đêm khổng lồ. Không thể đi ba bước trên đường phố mà không bị một người Java áp sát đến và gạ xài ma túy hoặc gái đĩ. Tùy chọn. Vào những năm 70, Kuta là một phần của chặng hành hương bắt buộc của những người hippie trong vòng tròn gồm ba chữ K: Kuta, Katmandu, Kabul. Vào năm 2002, Kuta, biểu tượng của trác táng Tây phương, đã được Al-Qaeda chọn làm nơi thực hiện một trong những vụ nổ bom liều chết đẫm máu nhất.

Chuyến đi kéo dài khá lâu, và tôi đến nơi vào cuối chiều. Công ty du lịch sẽ đóng cửa trong vòng mươi phút. Tôi đi theo một đường phố hẹp, với ý nghĩ trong đầu là tìm công ty ở đâu. Tình cờ, tôi dừng lại ở một trạm đỗ xe gần đó. Lên đến chỗ cao nhất, tôi cho xe vượt quá một chút để có thể lùi. Rồi tôi nhận thấy chiếc xe sau tôi không chịu dừng, mặc dù ý định dừng xe của tôi là rõ ràng: tôi không chỉ bật đèn hiệu rẽ ở đằng trước, mà còn nhận thấy xe chạy hơi lệch đi, cho thấy tôi đang định dừng. Xe kia bám sát tôi và không cho tôi lùi lại. Tôi giữ nguyên vị trí ở tư thế lệch trong một lát và vẫn để đèn hiệu nháy để xe sau hiểu ý tôi, nhưng không ăn thua: nó không lùi lại. Tôi hạ kính xuống, thò đầu ra bảo xe kia dịch một chút về phía sau để tôi có thể đỗ xe. Việc đó quá dễ, vì không có xe nào sau xe đó. Rõ ràng người lái xe đó hiểu ý tôi, nhất là khi tôi vừa nói vừa làm động tác rõ ràng. Nhưng vô ích. Một kiểu người phương Tây, khoảng gần năm mươi, ông ta có cái mặt đỏ gay, dấu hiệu của người da trắng lạm dụng việc phơi nắng và chất cồn. Ở vào vị trí của ông ta, tôi đã tự nguyện làm theo khi được giải thích đến lần thứ hai. Ông ta có cái vẻ bướng bỉnh của những người không bao giờ thể hiện sự mềm mỏng và không bao giờ nhường nhịn. Một sức ì ghê gớm lộ ra từ bộ dạng ông ta. Có cảm giác như chiếc xe của ông ta rất nặng, như đóng cọc xuống đất. Tôi nhắc lại lời nói và động tác. Vô hiệu. Bộ mặt lì lợm, hai vai dang rộng, hai cánh tay chết cứng, đôi bàn tay to lớn bấu chặt tay lái, toàn bộ cơ thể ông ta thể hiện tính sắt đá kiên quyết không khoan nhượng. Vì nhường nhịn rõ ràng là ý nghĩa của việc lùi lại hai thước. Tôi cảm thấy hiển nhiên là trong đời ông ta thì quan hệ với người khác phải được thể hiện bằng sức mạnh, và chắc chắn ông ta cho rằng đáp ứng yêu cầu của người khác là sự rút lui, là thể hiện sự yếu đuối. Nhưng đúng là như vậy. Ông ta có niềm tin kiểu như: trong cuộc sống không được để người khác quấy rầy, không được nhường nhịn. Ở vào những tình huống khác thì tôi thấy điều đó thật nực cười, kể cả nếu chung quanh ông ta không ai thấy nực cười. Nhưng công ty du lịch sẽ đóng cửa trong năm phút nữa. Tôi không có lựa chọn, tôi sẽ phải dừng ở đó, không còn thời gian để tìm chỗ khác. Lúc đó, tiếng nói của nhà hiền triết như vang lên: người ta luôn có thể lựa chọn. Tôi chợt nghĩ ra là có thể dùng sức ì chống lại sức ì. Tôi tắt máy, dập phanh rồi để xe chắn giữa đường. Tôi lao vào văn phòng công ty và chìa chiếc vé cho một nhân viên, người lúc đó đã bắt đầu tắt đèn. Bàn phím máy tính của người đó kêu lạch tạch, nhưng bị át đi bởi tiếng còi xe kéo dài. Tôi trình thẻ ngân hàng, hơi lo một chút, và cầu cho việc giao dịch không bị từ chối bởi trung tâm thanh toán. Giao dịch diễn ra mất một lúc, làm tôi cảm thấy như điềm gở, nhưng cuối cùng thì tôi được biết rằng hệ thống đã chấp nhận rằng tôi sẽ bị mất thêm một ít tiền.

Ví tiền của tôi thế là nhẹ bớt. Với cái vé máy bay mới trong túi, tôi trở lại xe. Người lái chiếc xe sau đang điên cuồng cực độ. Tay ông ta nhấn còi liên tục, và làm thế chỉ để tôi nghe được hàng tràng tiếng chửi rủa. Tôi gửi đến ông ta một nụ cười rất tươi, làm ông ta càng điên thêm. Tôi khởi động xe, làm ra vẻ tôi đang có cảm giác ông ấy sắp húc tôi. Thật thú vị. Tôi hiểu một cách đầy đủ khái niệm về sự lựa chọn mà ông lang đã dạy tôi. Ở người tài xế này, điều tai hại là sự thiếu vắng khả năng lựa chọn cách ứng xử mà cá tính của ông ta gây ra. Ông ta không thể lùi, không thể bàn bạc, không thể kiên nhẫn. Ông ta chỉ có thể cư xử bằng sự thô bạo. Con người này không có tự do. Ngược lại, ông ta bị trói buộc bởi các định kiến. Điều đó quá rõ ràng. Cách đây 15 ngày, tôi chỉ có thể nói: “Đồ ngu!” Hôm nay, tôi cảm nhận được rằng trí thông minh chắc chắn không thể hiện ở thái độ sai lệch.

Tôi ngạc nhiên vì bỗng hiểu cách cư xử của tôi trước đây là thói quen gạt bỏ với một sự cố chấp. Từ nay, mang theo sự hiểu biết đó và sự đồng cảm mới, tôi sẽ chú tâm quan sát và lắng nghe mọi người, và cố gắng phát hiện ra những định kiến vốn là nguồn gốc của thái độ của họ.

Tôi trở về bờ biển và ngồi bên bàn trên thềm ngoài của một quán giải khát. Tôi có thói quen luôn tiêu tiền để tự an ủi khi có những chuyện khó chịu về tài chính.

Tôi gọi một li cocktail chocolat-avocat, một kiểu pha trộn kỳ quặc nhưng rất ngon, và ngồi thoải mái trong chiếc ghế tựa bằng gỗ, quay mặt ra biển. Gió chắc đã phải thổi rất mạnh, vì bây giờ mây mù đã lên rất cao. Mặt trời cuối ngày nhuộm bờ biển bằng thứ ánh sáng nóng màu cam, làm nổi bật những ngôi nhà và những gương mặt. Trên bãi cát có những bụi cây hoa nhỏ mọc sát thềm quán, làm quang cảnh thêm sinh động. Thật dễ chịu khi ngồi một mình không có ai xen vào để tận hưởng môi trường hoang sơ mà không cần đóng góp gì vào việc tạo ra nó.

Bàn bên cạnh tôi có hai người còn trẻ đang chuyện trò. Cô gái khá xinh xắn và lịch sự, có mái tóc màu hạt dẻ và cặp mắt xanh, vẻ mặt hơi thuộc loại dễ hờn dỗi. Chàng trai, người mà cô gái gọi tên là Dick, không cao lớn lắm nhưng rắn chắc, cái cổ vững chãi, tóc nâu cắt sát đầu. Cô gái đang kể cho chàng trai nghe về một vở kịch bóng Trung Hoa mà cô đã trợ giúp dàn dựng vào tối hôm qua và đã hút hồn cô. Chàng trai nghe chăm chú, mặc dù tôi cảm thấy những cái bóng tuy được tạo ra một cách rất nghệ thuật nhưng không đủ làm ta say sưa. Có lẽ chàng trai bị tác động bởi sự tinh tế trong cách diễn đạt của cô gái. Tôi có cảm giác họ không phải là một đôi, nhưng cô gái cảm thấy trong sự chú ý của chàng trai có thứ tình cảm mà cô chưa được khám phá bao giờ. Chàng trai gọi cô gái là Doris, và tôi không thể nói được anh ta có ý làm đẹp lòng cô gái hay không. Dick thuộc hạng người cứng rắn mà người ta không thể biết được tình cảm và cảm xúc có là một phần trong bản chất của họ hay không. Tôi thấy buồn cười khi hình dung ra trong người đàn ông có những hang động lôi kéo người đàn bà bằng vô số những sợi dây tơ để đưa họ lên giường.

Ở bàn bên cạnh họ, một tay lướt sóng mới lớn, mặt hơi sần và hơi láu cá, đang nhâm nhi whisky pha coca. Cậu ta nhìn Doris một cách chăm chú, nhưng tôi có cảm giác là cô gái ấy hay cô khác thì cũng làm cậu ta chú ý như thế. Giữa cậu ta và tôi có một điểm chung: bất kỳ ai nói gì bên cạnh cũng không quan tâm.

Sau khoảng mười lăm phút, một cô gái trạc tuổi Dick và Doris đi đến cùng với một người mà rõ ràng họ không quen.

“Chào Kate!” Dick nói.

“Chào Dick, chào Doris.”

Tôi lập tức cảm thấy Doris kín đáo thu mình lại. Cô có vẻ không bằng lòng. Rõ ràng cô không ưa cô gái kia. Họ là thế nào với nhau?

Nước da nâu, dáng đi khiêu khích, Kate có vẻ gợi dục hơn là thực sự đẹp. Cô nàng diện đôi giày với gót quá cao đối với việc đi lại trên bãi tắm, một chiếc váy siêu ngắn và áo ngực dùng khi phơi nắng. Ngực nàng không thật nở nang, nhưng chiếc áo ngực saint Wonderbra gây hiệu quả khá ấn tượng. Ở bàn bên kia, tay lướt sóng mới lớn không rời mắt khỏi phần ngực trần của nàng. Nàng vừa nói vừa cười, thể hiện một kiểu cách rất mát mẻ của một cô gái, từ làn da đến toàn bộ cơ thể.

“Rất tiếc là mình đến muộn: mình đã đổi giờ đến bãi tắm và sẽ không tìm lại các mối quan hệ cũ nữa. Không thể sờ tay lên quần lót của mình được.”

Rất rõ ràng là tay choai choai có ý định xem liệu cô nàng có tìm lại cậu ta hay không; cái nhìn của cậu ta chuyển từ ngực cô nàng xuống chiếc váy cộc và găm lại đó, chờ thời điểm thuận tiện để trả lời. Doris cảm thấy cơn tức giận đang dâng lên. Kate rất hài lòng.

“Xin giới thiệu đây là Jenz, bọn mình gặp nhau trên bãi tắm. Các bạn biết tại sao không: anh ấy hút hai điếu Marlboro menthol cùng lúc, điên thế chứ!” Kate nói.

Người rất gầy, má hõm, nụ cười nhã nhặn, Jenz tự giới thiệu là “dân gốc một nước nhỏ của châu Âu”, tức là Đan Mạch. Vì thấy vùng hói quá rộng nên anh ta cạo đầu nhẵn luôn, một cách khéo léo để mọi người không nhận ra. Tuy thế, anh ta mang một bộ râu cằm màu nâu thẫm rất dày. Người ta có cảm giác là anh ta dùng bộ râu đó để bù lại sự thiếu tóc trên đầu. Giọng nói của anh ta nhỏ nhẹ đến mức phải căng tai ra mới nghe được. Anh ta trả lời câu hỏi của mọi người với một sự nhún nhường gần như cố tình tự hạ thấp, có vẻ như muốn xin lỗi vì đã quấy rầy. Dick nhìn anh ta và hơi cau mày, dường như muốn hỏi tay này thuộc loài động vật nào. Đối với anh ta thì việc một người đàn ông tỏ ra quá khiêm tốn như thế rõ ràng là mất bình thường. Jenz thì rõ ràng đang cố gắng không đụng chạm đến mọi người. Năm phút sau thì mọi người đều quên sự có mặt của anh ta. Anh ta không còn tồn tại nữa.

Điều gì có thể đẩy một con người đến chỗ xử sự như vậy? Anh ta tin vào điều gì mà như thế? Liệu có phải thuộc loại “Tôi tỏ ra nhỏ bé để mọi người để cho tôi yên”? Trong mọi trường hợp, tôi tin rằng Dick có niềm tin ngược lại: “Nếu ta tỏ ra mạnh, mọi người sẽ nể trọng ta.”

Jenz đắm đuối nhìn Kate, trong khi cô nàng không hề nhìn đến anh chàng từ sau khi giới thiệu anh ta với mọi người. Cô đã hoàn toàn quên anh ta. Vì sao nàng lại đem anh ta đến chỗ nhóm người đó? Để hưởng khoái cảm khi tự quảng cáo mình cùng với một kẻ ngưỡng mộ si mê đang chứng tỏ sức mạnh cám dỗ của cô ta? Để làm Dick phải chú ý? Tôi thực sự cảm thấy cô ta đang làm mọi cách để thu hút sự chú ý của anh chàng này. Doris chắc cũng cảm thấy thế, vì cái nhìn bực dọc của cô thỉnh thoảng lại lóe lên những tia khinh ghét.

Người bồi bàn đến hỏi họ gọi gì.

“Một lagoon xanh”, Kate yêu cầu.

“Một lon nước ga”, Doris nói.

“Anh uống gì?” Dick hỏi Jenz.

“Gì cũng được.”

“Anh tự chọn lấy!”

“Thôi được, tôi uống giống anh.”

“Hai lon bia.” Dick gọi.

Dick hài lòng vì một ngày của mình.

“Mấy con đĩ sóng, hôm nay mạnh thế chứ. Nhưng dù sao thì ngày hôm nay cũng không đáng bực mình.”

“Nhìn mấy phần tử cuồng loạn cũng hay.” Doris nói.

“Đúng đấy.” Jenz phụ họa.

“Ô không, hôm nay rất khó chịu.” Kate nói. “Có hai kẻ cứ chọc tôi mãi. Tôi phán chán rồi mà họ cũng không để cho tôi yên.”

“Cô nên đi lướt sóng. Trên mặt nước thì bọn đàn ông chỉ thấy sóng thôi.”

“Ô không, tôi không lướt sóng đâu, tôi ngã suốt, và có khi tôi làm hỏng ngực nếu đập người xuống nước.”

Ở bàn bên, cái nhìn của cậu trai tơ lại chuyển từ váy lên ngực.

Doris đã quyết định không chiến đấu nữa. Vốn rất nhạy cảm, cô thuộc dạng người muốn được người khác yêu quý vì chính con người mình, như họ vốn có, đến mức cô ngày càng tin rằng nếu cô cố làm điều gì đó để làm đẹp lòng người khác thì người kia sẽ không yêu chính con người cô nữa, mà yêu cái sự làm đẹp lòng kia thôi.

“Các bạn có biết tại sao đàn ông khi xuất tinh lại giật lên không?” Kate hỏi trống không, vừa gây khó chịu lại vừa gây chú ý.

Dick có vẻ rất chú ý đến câu hỏi và chờ phân giải. Nét mặt Doris biểu thị vẻ ghê tởm vì sự thô lậu. Jenz cười bẽn lẽn.

“Vì đàn bà thèm uống cả ngụm.” Kate nói với vẻ khích lệ cái nhìn của Dick.

Jenz cười đần độn, còn Dick thì có vẻ thỏa mãn. Doris thấy choáng.

Chàng trai mới lớn sững người. Cậu ta chưa từng biết rằng có một loại phụ nữ như cô ả kia. Cậu há hốc mồm. Mắt cậu ta dán chặt lên người cô ả như muốn ăn sống nuốt tươi. Chắc cậu ta nghĩ rằng đó là một trái bom trên giường. Còn tôi thì tôi tin rằng cô ả quan tâm đến ấn tượng mà mình gây ra cho đàn ông hơn là ấn tượng mà đàn ông gây ra cho ả.

Cái gì có thể có thể làm cho một cô gái chơi trò khiêu khích đến mức nói trước đám đông những chuyện tục tĩu như thế? Cô ta tìm kiếm điều gì? Cô ta tin vào điều gì ở bản thân mình và ở người khác? Chắc chắn sâu bên trong cô ta có nhu cầu quyến rũ đàn ông, kích động ham muốn tình dục ở người khác. Tôi bắt đầu cảm nhận được một vài định kiến của cô ta: “Tôi tồn tại vì tôi quyến rũ”, hoặc “Tôi có giá nếu tôi quyến rũ được đàn ông”. Dù sao thì tôi cũng cảm thấy sự quyến rũ táo tợn của cô ta không phải sự lựa chọn đúng, và cô ta đang đáp ứng cái nhu cầu mà cô ta là nô lệ cho nó.

Tôi bắt đầu thấy thú vị khi nghe mọi người nói để đoán biết những định kiến của họ. Nhưng đồng thời, tôi càng phát hiện thêm những định kiến đó, tôi càng thấy buồn vì hiểu rằng con người nói chung không có tự do. Sự thiếu vắng tự do này không phải do một kẻ độc tài tệ hại gây ra, mà chỉ do những định kiến của con người về bản thân, về người khác và về thế giới.

Trên bãi tắm, những bậc cha mẹ đang bày trò chơi trên cát cho con cái họ. Tôi nhìn họ một lát và ngạc nhiên khi thấy họ đẩy con cái vào cuộc đua tranh với những đứa khác. Chúng làm việc của chúng thành công cũng chưa đủ, chúng phải tranh đấu với bạn bè, phải “hơn chúng nó”! Những bậc cha mẹ này tin vào điều gì? Tin rằng người ta chỉ có giá trị khi vượt qua kẻ khác? Rằng một kết quả chỉ có giá trị khi nó hơn kết quả của người bên cạnh? Còn tôi, tôi cảm thấy rằng cuộc đua có giá trị duy nhất là cuộc đua với chính mình. Tự vượt lên trên hơn là vượt qua người khác. Nhà thông thái đã nói với tôi rằng người ta không thể phán xét một niềm tin, mà chỉ có thể quan tâm đến kết quả. Nếu vậy, họ là những người như thế nào? Chỉ là sự kích thích? Cố nhiên. Một động cơ để tiến bộ. Nhưng hệ quả đối với người khác sẽ như thế nào? Liệu người ta có thể hưởng thụ tình bạn, tình yêu nếu lúc nào cũng so sánh hơn kém không? Và người ta sẽ cảm thấy gì khi có mặt người khác? Sẽ dao động giữa cảm giác về tính vượt trội và mặc cảm tự ti chăng? Giữa thờ ơ và quan tâm? Hay thương hại và ghen tị? Những bậc cha mẹ này không thể ngờ về cái mà họ nhồi vào đầu con cái họ, và chúng sẽ quen dần với nó khi sống trong xã hội. Từ động cơ, hành vi đến cảm xúc của chúng sẽ được chi phối bởi những định kiến khắc sâu vào tâm trí từ cái tuổi mà người ta hấp thụ những mẫu hình do bên ngoài áp đặt.

Mà những người cha người mẹ đó, họ đã hình thành những định kiến trong chính họ ra sao? Họ thừa kế chúng từ chính cha mẹ của họ chăng? Hay họ đã phải chống chọi lại những người tranh đua với họ, và vì thấy kém cỏi, bây giờ họ muốn con cái họ có được cái vị trí của những người đã thắng thế? Nếu vậy thì sự lựa chọn của họ nằm ở đâu? Lẽ nào họ lại theo cái mẫu của kẻ đi xúc phạm người khác?…

Ở một bàn khác có một người mới đến. Một ngài “biết tuốt” đang tranh luận với một mệnh phụ, và bà này đang làm cho ông ta tin rằng bà rất ngưỡng mộ sự uyên bác của ông ta, làm ông ta quên đi những điều bực dọc. Về bất kỳ chủ đề nào, ông ta cũng có gắng áp dụng phương pháp khoa học để soi sáng. Ông ta lưu ý bà những câu diễn đạt thiếu chính xác của bà, và rất ít khi bà nói chen được. Tôi tự hỏi ai là người đáng thương hơn trong hoàn cảnh này, và thấy ông ta có nhu cầu khẩn thiết là phải làm người khác biết rằng ông ta thông thái. Điều đó đối với ông ta là sống còn. Có lẽ ông ta cho rằng không thể sống mà không biết những điều ông ta biết? Hay ông ta sợ bị xem như một kẻ ngu đần hoặc thiếu văn hóa? Hay ông ta cho rằng được yêu bởi một kẻ không cảm nhận được sự uyên bác của ông ta thì cũng coi như không? Và vì thế ông ta thấy mình có nghĩa vụ phải thể hiện mình?…

Điểm chung của tất cả những nhân vật này là họ không có tự do, nhưng vẫn cảm thấy có. Họ cố thủ những định kiến của họ, và định kiến này thu hẹp khả năng lựa chọn của họ, áp đặt cách cư xử cho họ. Càng lúc, tôi càng có ý thức thêm. Bây giờ thì chỉ cần nhìn hay nghe những người lạ vài phút là tôi có thể cảm nhận được những định kiến là cơ sở cho thái độ của họ.

Tôi là David Vincent trong phim “The Invaders” (Những tên xâm lược, phim giả tưởng của Larry Cohen – NTS). Anh ta nhận ra những kẻ xâm lăng từ hành tinh khác đến và đã tràn ngập mặt đất qua ngón tay út cứng ngắc của bọn chúng. Còn hành tinh của tôi thì tràn ngập những định kiến của con người. Chúng có mặt khắp nơi và điều khiển hành vi của họ.

 

MƯỜI TÁM

Tôi trở lại xe, không thấy cảm giác khó chịu khi rời Kuta cùng với những quán xá và quang cảnh nhọn nhạo. Tôi về căn nhà thuê trong đêm đen khá nóng nực, và cảm thấy nghi lễ tắm thật thiêng liêng.

Buổi sáng thứ Bảy đối với tôi dường như vô tận. Suốt buổi sáng đó, tôi ngồi dưới bóng cây dừa trên bãi tắm quan sát những người đánh cá thưa thớt đi lại. Tôi đợi chiều đến trong sự bồn chồn. Tôi tự hỏi không biết cái “phép thử căn bản” mà nhà thông thái để dành cho cuộc gặp cuối cùng đó nó như thế nào. Tôi thấy khó mà tin được rằng cuộc gặp cuối cùng này sẽ giải quyết vấn đề. Tôi đã quen với những cuộc trao đổi, và mỗi lần gặp đều làm tôi thấy khó mà chấp nhận được rằng vòng tròn sẽ khép kín.

Vì sao trong lần đầu tiên tôi lại quyết định gặp ông lang này? Sự run rủi quái quỷ nào đã đưa tôi đến gặp ông ấy và nghe ông ấy nói, trong khi trước đó tôi không có nhu cầu đó? Cuộc sống thật buồn cười, đôi khi những quyết định đơn giản lại dẫn đến những hệ quả lớn lao đến mức khó tin đối với cả tiến trình tồn tại. Và nhiều năm sau, người ta vẫn tự hỏi nó sẽ diễn tiến ra sao nếu vào thời gian đó người ta không quyết định như vậy mà là theo kiểu khác?… Đã có bao nhiêu cơ hội như vậy mà tôi đã để chúng tuột mất, thậm chí không hề biết đến chúng? Có bao nhiêu lần, trong hàng ngàn sự kiện đã xảy ra, ttooi đã lựa chọn con đường tầm thường, trong khi con đường khác mới thực sự tuyệt vời?

Tôi dùng một bữa ăn trưa nhẹ hơi sớm. Tôi muốn gặp nhà hiền triết ngay từ đầu chiều để có thể ở lâu với ông. Mục đích của tôi là tận dụng tối đa cuộc gặp này vì nó là cuộc gặp cuối cùng, đồng thời cũng phải thừa nhận rằng nó đáng giá đối với tôi.

Sự tình cờ đã run rủi đến chỗ tôi phải đến lán của ông thầy đúng lúc máy bay của tôi cất cánh. Khu vườn vẫn như lần đầu tiên tôi thấy, đơn giản và đẹp, với những hương thơm tinh tế của các loại hoa đem về từ khắp mọi miền. Tôi bước tới và ban đầu không thấy ai. Cái lán nơi mà ông thường tiếp tôi trống trơn. Không gian im lặng như tờ. Có lẽ tôi đến quá sớm. Tôi đi một vòng chung quanh: không một bóng người. Tôi ngồi lên bờ tường thấp và chờ. Sự tĩnh lặng chỉ bị xáo trộn bởi tiếng lá xào xạc và tiếng kêu của con tắc kè chắc rúc ở đầu tường. Một sự yên tĩnh như vậy thật tốt để thư giãn, và lần đầu tiên tôi tự nhủ rằng có lẽ tôi không được sinh ra để sống ở thành phố lớn. Khoảng hai mươi phút trôi qua, rồi cuối cùng tôi cũng thấy thiếu phụ búi tóc xuất hiện. Tôi tiến về phía chị ta, và chị ta lên tiếng trước khi tôi hỏi.

“Thầy Samtyang không có ở nhà hôm nay.” Thiếu phụ nói.

“Vâng, tôi biết là thầy bận vào buổi sáng, nhưng thầy đã nói sẽ tiếp tôi chiều nay. Chắc thầy không nói với chị. Chị có thể báo cho thầy được không?”

“Nhưng thầy không ở đây.”

“Thôi được, chắc là thầy về muộn. Nếu thế, tôi sẽ đợi thầy ở lán.” Tôi nói và bước đi.

“Không, hôm nay thầy không về đâu; thầy nói với tôi khi đi là mai tôi mới gặp lại thầy.”

“Chắc là chị nhầm.” Tôi khẳng định. “Tôi bảo đảm với chị là tôi có cuộc gặp với thầy, không thể có chuyện thầy quên được.”

“Thầy không quên, nhưng thầy không có ở đây, và anh sẽ không gặp được thầy.”

Chị ta nói năng tự nhiên như mọi khi mà không hề để ý đến sự thất vọng của tôi.

“Sao lại thế được? Thầy không quên?” Tôi nói và thấy sự bực bội dâng lên trong người.

“Đúng là thầy có nói anh sẽ đến vào chiều nay.”

“Chuyện này là thế nào?” Tôi hung lên. “Tôi đã đổi vé máy bay theo yêu cầu của thầy, để cố gặp thầy bằng được. Tôi phải gặp. Thầy ở đâu?”

“Tôi không biết.”

Tình huống đã vượt quá sức chịu đựng của tôi. Tôi có cảm giác như đang trong cơn ác mộng.

“Thầy có nói gì với chị về tôi không?”

“Anh không thấy thầy để lại lời nhắn cho anh à?”

“Ở đâu?’

“Trong lán ấy.”

Tôi vội chạy vào lán, thấy hãi hùng vì sự việc xảy ra. Sao lại làm việc này với tôi? Ông ấy biết rằng tôi phải trả giá cho việc đổi vé. Ông ấy sẽ giải thích ra sao?

Lời nhắn được đặt trên chiếc rương gỗ long não. Một mẩu giấy đã nhuốm vàng gấp tư. Tôi chộp lấy và mở ra. Tôi nhận ra nét chữ lướt nhẹ và ngoằn ngoèo của ông già:

Việc bị lừa, việc thất vọng hoặc thậm chí phẫn nộ mà anh phải chịu đựng khi đọc lời nhắn này sẽ đồng hành với sự thăng hoa của anh lên một chiều tồn tại mới, một chiều tồn tại không cần đến tôi nữa mà vẫn tiếp tục tiến bộ.

Khi quyết định tới đây vào chiều nay, anh đã vượt qua phép thử căn bản đối với anh trong việc phát triển một khả năng làm cho anh khác hẳn ngày hôm nay: khả năng thực hiện sự lựa chọn bắt anh phải trả giá, và từ bỏ một cái gì đó, nói cách khác, là hy sinh để tiến lên. Thành tựu đối với tương lai là: trở ngại cuối cùng đối với việc thăng hoa của anh đã bị phá vỡ tan tành. Anh sẽ có một nguồn sức mạnh đồng hành cùng anh suốt đời. Con đường dẫn tới hạnh phúc đôi khi đòi hỏi phải từ bỏ sự dễ dãi để thỏa mãn những đòi hỏi khắt khe với sự tự giác ở sâu trong bản thể.

Chúc hành trình tốt đẹp,

Samtyang

Tôi im lặng một hồi lâu.

Tôi chuyển từ phẫn nộ sang sửng sốt, từ sửng sốt sang ngờ vực, từ ngờ vực sang thấu hiểu, từ thấu hiểu sang chấp nhận, từ chấp nhận sang biết ơn, và từ biết ơn sang khâm phục.

Con người này đã thực hiện một cuộc thử thách đối với tôi, trong khi ông biết rằng tôi muốn nhưng không thể thông cảm cho ông. Ông đã làm điều đó vì ông biết rằng muốn thăng tiến thì am hiểu hay tán thành một tư tưởng là chưa đủ. Cần phải trải qua một cái gì đó mạnh mẽ, phải có mất mát, và đó là điều ông yêu cầu ở tôi.

Bằng việc vắng mặt, ông đã từ chối lời chào giã biệt, lời cảm tạ và những lời bày tỏ sự biết ơn vì tất cả những gì ông đã làm cho tôi. Và bằng hành động đó, ông đã chứng tỏ ông đã dạy được tôi, bằng cách khuếch đại sức mạnh của thông điệp, bằng một nghệ thuật tuyệt vời.

Tôi ngồi một mình một hồi lâu, để cho bầu không khí đặc biệt với những hương thơm quyến rũ của nơi này thấm vào cơ thể. Rồi hai tay tôi từ từ đưa lên cổ và kéo cái dây chuyền với hình chữ thập của giáo phái Calvin mà tôi đang đeo. Tôi lấy nó ra một cách nhẹ nhàng và đặt nó vào chiếc hộp, chiếc hộp nhỏ đặt trên giá.

 

MƯỜI CHÍN

Tôi lên đường, và sau khi dừng mua một ít đồ ăn trong làng cho vào túi xách, tôi cho xe chạy thật nhanh lên phía bắc. Nửa giờ sau, tôi dừng xe, thít lại dây giày, khoác túi lên vai và bắt đầu đi vào con đường hẻm. Đi được ít phút, tôi đã cảm thấy khá nóng, và mồ hôi đổ ra trên trán. Tôi ngước mắt lên và đưa tay che cho đỡ chói mắt. Vươn hết tầm cao như một gã khổng lồ vĩ đại, bất động và bất biến, núi Skouwo đã ở đó, ngay trước mặt tôi.

Việc trèo lên đỉnh lấy đi của tôi gần bốn giờ. Bốn giờ gắng sức, và đôi lúc là đau mỏi. Đường lên đôi chỗ dựng đứng, và có lúc tôi thấy đuối hơi. Đôi khi cả một đoạn đường kéo dài bên sườn núi trên cùng một độ cao, và tôi phải hít hơi dự trữ từ bầu không khí đầy mùi tinh dầu của các loại cây nhiệt đới mà tôi không biết tên. Càng lên cao, quang cảnh mở ra trước mắt tôi càng đầy ấn tượng.

Tôi lên đến đỉnh núi khi vừa kiệt sức, không còn chút năng lượng nào, nhưng thấy thực sự thỏa mãn. Tôi đã thành công trong việc chiến thắng sức ì, huy động lòng dũng cảm và sức lực, để đi tới tận cùng của một quyết định, và bây giờ tôi cảm thấy thực sự mạnh mẽ, đứng trên đỉnh Skouwo như vị thuyền trưởng đứng trên mũi tàu, trấn giữ nhiều cây số đất đai đồng ruộng và rừng cây. Gió rít lên bên tai tôi, làm tôi ngất ngây bởi chất men say thám hiểm.

Đối với tôi, một cuộc sống mới bắt đầu, và từ nay, đó mới là Cuộc Sống Của Tôi, kết quả của những quyết định của tôi, những sự lựa chọn của tôi, sự tình nguyện của tôi. Vĩnh biệt những nghi ngờ, những dao động, những nỗi sợ bị chê trách, sợ không đủ khả năng, sợ không được yêu. Tôi sẽ sống mỗi thời khắc trong sự nhận biết, trong sự hòa hợp với chính mình và với những giá trị của mình. Tôi sẽ sống vị tha, nhưng trong tâm sẽ luôn nhớ rằng món quà đầu tiên cần tặng mọi người là sự cân bằng của chính tôi. Tôi sẽ chấp nhận những khó khăn như những thử thách để tiến bước, như những món quà mà cuộc sống ban tặng để học những điều mà tôi phải học để tiến hóa. Tôi sẽ không còn là nạn nhân của những sự kiện, mà là người hành động trong một cuộc chơi mà các quy tắc được khám phá dần, và luôn giữ lại một phần của những điều bí ẩn.

Việc xuống núi diễn ra nhẹ nhàng và nhanh chóng. Tôi đi vòng để đến ngồi trên bờ của hồ nước trải dưới chân núi, nơi tọa lạc đền thờ nữ thần Nước. Đó là một nơi linh thiêng và đẹp lạ lùng. Mặt trời vừa đậu trên mặt nước phẳng lặng, giờ đã biến mất, để lại một cảnh tượng chìm trong hư ảo. Mặt nước mênh mông được trấn giữ bởi cái bóng hùng vĩ của núi Skouwo. Không có bóng dáng một ngôi nhà nào. Không một bóng người. Im lặng tuyệt đối. Như trong một bức tranh thủy mặc, ngôi đền màu đen mái cong tương phản với bóng sáng trắng của những đám mây in hình dưới mặt hồ. Tôi ngồi đó một hồi lâu, để cho không khí trong lành và tĩnh lặng thấm đẫm trong tôi.

Đến khuya tôi mới trở về căn nhà thuê, và khi đi đường phải rất tập trung để tránh vô số xe cộ của người Bali phóng như điên trên đường. Về đến nơi, tôi thấy mệt nhưng khoan khoái. Tôi đi ra bờ biển. Ánh sáng của vầng trăng đang lên tạo ra cho bãi cát một vẻ thư thái. Không một bóng người. Những nhóm người đánh cá đã đi khỏi đó từ lâu.

Tôi cởi bỏ hết áo quần và trầm mình vào làn nước ấm áp. Tôi bơi trong yên lặng, thanh thản và tự do, cảm nhận làn nước đang mơn trớn da thịt mình. Tôi cảm thấy đang dập dềnh theo chuyển động chậm chạp của những con sóng và đang chìm sâu vào đại dương mênh mông. Tôi hít một hơi dài rồi từ từ lặn thật sâu xuống dưới. Tôi túm lấy một hòn đá nằm trên đáy cát. Sức nặng của nó cho phép tôi giữ cơ thể cố định, không bị trồi lên mặt mặt nước, cũng không bị lún xuống cát. Tôi tập trung chú ý vào chính mình, gập gối lên ngực và luôn nhìn vào hòn đá giữa hai tay. Tôi giữ lơ lửng như thế một lúc lâu trong làn nước ấm áp và mềm mại, lắng nghe tiếng sóng vỗ ầm ào đều đều và êm dịu trên mặt nước.

 

HAI MƯƠI

Tôi tỉnh dậy trên cát. Mặt trời đã mọc, và tôi không nhớ rằng mình đã ngủ trên bãi tắm. Tôi có áo quần trên người, nghĩa là không phải bị sóng đánh giạt vào bờ khi tắm lúc đêm. Tôi đứng dậy và vươn vai, hít đầy phổi thứ không khí tinh khôi từ biển vào. Tôi cảm thấy mình là một con người mới.

Những chiếc thuyền độc mộc của những người đi câu đã đang trở lại; chúng hiện lên trong ánh sáng chân trời buổi sớm. Tôi bước mấy bước về phía mặt nước, hai bàn chân in trên cát những dấu chân mà ngay sau đó sẽ bị xóa đi bởi đợt sóng tiếp theo, trong tiếng xì xào nhè nhẹ của bọt nước đang tan. Ngoài khơi, một chiếc tàu thủy đang đi xa dần, mang theo vài trăm hành khách đi khám phá Célèbes, Java hoặc Bornéo.

Tôi thấy một đứa trẻ một mình trên bãi tắm, chắc chắn là con gái của một du khách tới khám phá nơi này. Cô bé khoảng năm hay sáu tuổi. Nó cầm một cái que, chăm chú vẽ một hình gì đó trên cát. Nó thấy tôi đi lại gần, và khi tôi đến nơi thì nó nhoẻn cười rất nhanh và vẫn không rời mắt một giây nào khỏi tác phẩm của nó.

“Cái gì đấy cháu?” Tôi hỏi.

“Tàu chở khách chứ còn gì.” Cô bé trả lời bằng giọng hơi bực, và vẫn tiếp tục vẽ.

“Cháu thích tàu thủy à?”

“Dạ. Hồi trước cháu còn thích thành thuyền trưởng đấy.”

“Cháu đổi ý rồi à?”

“Dạ, vì cái đó quá khó đối với cháu.” Cô bé nói với giọng tiếc rẻ.

“Sao cháu biết?”

“Đó là ông cháu bảo thế. Ông bảo đó là nghề của bọn con trai, không phải của con gái.”

Cô bé thêm chi tiết cho bức vẽ, và bây giờ tỏ vẻ hơi buồn, làm tôi thấy se lòng.

“Tên cháu là gì?”

“Andy.”

“Nghe này, Andy, nhìn chú này!”

Cô bé buông cái que và ngước nhìn tôi. Tôi quỳ xuống cát, cúi xuống ngang tầm cô bé.

“Chú tin chắc rằng ông cháu yêu cháu và muốn điều tốt cho cháu. Nhưng chú sẽ nói với cháu một điều. Đó là một bí mật mà cháu phải luôn giữ kín. Cháu muốn nghe không?”

“Dạ có.”

“Andy, đừng để cho ai nói với cháu rằng cháu không có khả năng. Chính cháu phải là người lựa chọn và sống cuộc đời của cháu.”

Cô bé nhìn vào mắt tôi và tập trung suy nghĩ một hồi. Rồi cái vẻ nghiêm trang của nó bỗng tan biến, nhường chỗ cho một nụ cười làm sáng bừng gương mặt. Nó đứng lên, bước đi với dáng rất tự tin, phóng tầm mắt ra khơi, nơi con tàu đang tiếp tục cuộc hành trình về phía chân trời.

HẾT

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s