NGƯỜI MỸ TRẦM LẶNG Graham Greene

ANHChương 23

Những người đồng bào của anh hình như để một phần lớn nghị lực vào việc nốc rượu.

– Tôi chưa hề nói với ai điều này.

– Anh còn trẻ. Đừng lấy điều đó làm ngượng.

– Có phải anh có đến một đống đàn bà không, anh Fowler?

– Tôi không hiểu một đống là thế nào. Chỉ có bốn người phụ nữ là đã ít nhiều quan trọng đối với tôi, hay với bản thân họ. Còn đối với bốn mươi người khác – hay xấp xỉ như vậy – người ta tự hỏi làm thế để làm gì? Để giữ sức khỏe, hay vì nghĩa vụ xã hội, các lập luận đó đều láo toét cả.

– Anh coi là sai lầm thật ư?

– Tôi muốn có thể sống lại những đêm đó. Tôi bây giờ vẫn muốn yêu Pyle ạ, nhưng ngày càng hết duyên rồi. Ồ tất nhiên, có sự kiêu hãnh ở chỗ này. Được người khác mê mình thì mình còn tự kiêu mãi mãi. Nhưng trời có hiểu cái gì làm ta nở mũi khi nhìn thấy chung quanh ta những người đàn ông định chinh phục không?

– Anh Thomas này, hay là bộ máy con người tôi có cái gì bị hỏng liệt, anh cứ nói thật cho.

– Không phải đâu, Pyle ạ.

– Không phải là tôi không biết thèm khát phụ nữ, tôi cũng giống như mọi người thôi, tôi không có cái gì khác thường cả đâu.

– Thật ra chúng ta không thèm khát nhiều như chúng ta tưởng. Chúng ta tự ám thị ghê gớm quá về vấn đề này. Bây giờ tôi biết rằng tôi không thèm khát một người phụ nữ nào… ngoài Phượng. Nhưng điều đó là một khoa học mà phải có năm tháng trôi qua, ta mới nắm được. Nếu không có Phượng, tôi có thể cả năm không có đêm nào thao thức cả.

– Nhưng cô ta còn đấy – Pyle nói nhỏ đến nỗi tôi không nghe rõ.

– Người ta bắt đầu bằng cách tìm thú vui ở khắp mọi nơi, rồi kết thúc bằng sự chung thuỷ với một người, y như cha ông chúng ta vậy.

– Bắt đầu kiểu như vậy thì cũng hơi ngây thơ.

– Không.

– Trong báo cáo của Kinsey không nói điều này.

– Báo cáo sẽ nói, nếu đó là một sự ngây thơ.

– Anh Thomas này, nằm ở đây mà nói những chuyện này thì khoái thật. Lạ thật, y như chúng ta không bị sống trong sự đe dọa vậy.

– Người ta có cảm giác như vậy trong lúc tạm yên giữa hai đợt máy bay ném bom. Nhưng họ sẽ trở lại.

– Nếu người ta hỏi, theo kinh nghiệm quan hệ với phụ nữ của anh, lúc nào là lúc sống sâu lắng nhất, thì anh trả lời thế nào?

Câu trả lời của tôi đã sẵn sàng.

– Vào lúc sáng sớm, nằm ở trên giường và nhìn một người phụ nữ mặc áo ngủ đỏ đang chải tóc.

– Jo thì nói rằng đối với hắn, đó là lúc vừa được ngủ cả với một người Tàu và một người da đen.

– Khi tôi hai mươi tuổi, tôi cũng nghĩ như vậy.

– Jo này đã năm mươi tuổi.

– Tôi tự hỏi, khi người ta tống hắn ra mặt trận, người trước tính hắn đã có trí tuệ bao nhiêu tuổi.

– Có phải Phượng chính là người phụ nữ mặc áo ngủ màu đỏ không?

Nếu Pyle không đặt câu hỏi này thì hay biết mấy!

– Không phải. Cô ấy đến với tôi trước Phượng. Khi tôi đã xa vợ.

– Thế rồi việc gì đã xảy ra?

– Tôi cũng lại lìa cô ta.

– Sao vậy?

Thật ra thì tại sao nhỉ?

– Khi yêu, chúng ta là những người ngu ngốc – Tôi nói – Ý nghĩ sẽ mất cô ta làm tôi kinh sợ. Tôi thấy như cô ta đối với tôi sự đổi thay. Tôi không rõ cô ta có đổi thật không, nhưng tôi không thể chịu đựng nổi sự hoài nghi thấp thỏm. Tôi chạy nhanh đến chỗ kết thúc y như một tên lính nhút nhát lao mình về phía địch và vì thế lại được hưởng một tấm huân chương. Tôi muốn lấy cái chết để chấm dứt.

– Cái chết ư?

– Đó cũng là một kiểu chết. Rồi sau tôi sang phương Đông.

– Và anh đã gặp Phượng?

– Phải.

– Thế sống với Phượng, anh có ý nghĩ tương tự không?

– Không. Thế này nhé, người kia thì yêu tôi. Tôi sợ mất cái tình yêu đó. Bây giờ tôi chỉ sợ mất Phượng thôi.

“Sao tôi lại nói như vậy nhỉ? – Tôi tự hỏi – Pyle không hề cần đến tôi động viên anh ta”.

– Nhưng Phượng cũng yêu anh, phải không?

– Yêu theo một kiểu khác. Bản chất cô ta khác. Anh sẽ nhận ra thôi. Nếu nói rằng những người như cô ta chỉ là những đứa trẻ con, thì cũng là dùng một hình ảnh rập khuôn thôi, nhưng quả thực là ở họ có những mặt rất ấu trĩ. Họ đem lòng yêu mến anh để đền đáp lại sự đôn hậu, sự an toàn và những món quà anh đem lại cho họ. Họ ghét anh khi anh có một cử chỉ vũ phu hay bất công đối với họ. Họ không hiểu rằng người ta có thể vào một căn nhà và yêu một người chưa quen biết. Pyle này, khi đã là một người luống tuổi, điều này làm ta yên tâm: Cô ta không bao giờ lìa nhà ta khi cái nhà đó còn là cái nhà ấm cúng.

Tôi không có ý định làm Pyle đau khổ. Chỉ khi nghe hắn nói bằng giọng nghẹn ngào và bực bõ, tôi mới biết tôi đã làm hắn đau đớn như thế nào.

– Cô ta có thể thích hơn, nếu được an toàn hơn hay đối đãi tử tế hơn.

– Có lẽ.

– Anh không sợ điều đó ư?

– Không sợ bằng sợ tình huống đã xảy ra.

– Thực ra anh có yêu cô ta không?

– Có chứ, Pyle, có chứ. Nhưng yêu như yêu con người kia thì tôi yêu chỉ một lần.

– Tuy biết đến bốn mươi người – Hắn nghiêm khắc nói.

– Chắc chắn là con số đó còn dưới con số trung bình đã được nêu trong báo cáo của Kinsey. Anh xem, Pyle này, phụ nữ không cần con trai tân đâu. Tôi cũng không chắc chúng ta thích những người phụ nữ còn trinh, trừ phi ta thuộc về loại người mắc một kiểu bệnh tinh thần nào đó.

– Tôi có nói với anh rằng tôi là trai tân đâu?

Kiểu nói chuyện giữa tôi và Pyle thường cứ chất chưởng như vậy. Phải chăng vì hắn thật thà quá mà câu chuyện hay bị lệch hướng? Cứ như mỗi khi gặp khúc ngoặt thì chiếc xe lại va quệt vậy.

– Có thể biết tới một trăm người đàn bà mà vẫn là trai tân. Trong chiến tranh, phần lớn những G.I của các anh bị treo cổ vì tội hiếp dâm là những người trai tân. Ở châu Âu chúng tôi không đến nỗi như thế. May quá. Họ đã gây ra biết bao tai hại.

– Tôi không hiểu nổi anh, anh Thomas ạ.

– Điều đó chẳng đáng để giải thích thêm cho anh. Vả lại vấn đề nhức đầu lắm. Tôi đã đến tuổi mà những câu chuyện quan hệ nam nữ không quan trọng bằng các vấn đề cái già và cái chết. Buổi sáng khi tỉnh giấc, đầu óc tôi bận rộn về những vấn đề đó hơn là hình hài một người phụ nữ. Tất cả điều tôi mong muốn là không phải sống lẻ loi trong mười năm cuối cùng của đời mình. Không mong điều gì khác. Cả ngày tôi sẽ không biết nghĩ đến việc gì. Tôi muốn có một người đàn bà bên cạnh, trong cùng gian phòng với tôi… dù đó là một người mà tôi không yêu. Nhưng nếu Phượng lìa bỏ tôi, không hiểu tôi có nghị lực đi tìm một người khác không?

– Nếu cô ta chỉ là thế thôi đối với anh…

– Chỉ là thế? Pyle! Anh hãy chờ cho đến khi phải sợ hãi cuộc sống cô đơn mười năm và sau đó là vào nhà dưỡng lão. Rồi anh chạy đi tứ phương, chạy trốn cả con người mặc áo ngủ màu đỏ, để tìm được một người, bất kỳ ai, miễn là ở với anh đến cùng.

– Thế tại sao anh không trở lại với vợ anh?

– Không dễ sống với người mà mình đã làm cho đau khổ.

Một băng dài Sten nổ vang, chắc chỉ gần chưa đến 2 km. Có lẽ một người lính gác hoảng hốt đã nã vào một bóng đen. Có lẽ một cuộc tấn công mới bắt đầu. Tôi hy vọng đó là một cuộc tấn công: như vậy, vận may của chúng tôi lại được tăng lên.

– Anh có sợ không anh Thomas?

– Sợ quá đi chứ. Sợ với tất cả bản năng của tôi. Nhưng lý trí của tôi lại bảo chết kiểu này lại là hay. Chính vì thế mà tôi đã tới phương Đông. Ở đây cái chết lúc nào cũng ở cạnh anh. (Tôi nhìn đồng hồ. Hơn mười một giờ. Chỉ còn tám giờ nữa là thoải mái được rồi). Tôi cho rằng – Tôi nói tiếp – Chúng ta đã nói về tất cả các vấn đề, trừ Thượng đế. Phải dành vấn đề đó cho những lúc thanh vắng giữa đêm như thế này.

– Tôi có cảm tưởng như anh không tin ở Người.

– Không.

– Đối với tôi, gắn mỗi việc vào ông trời thật là vô nghĩa.

– Khi xưa tôi đã học…

– Tôi không bao giờ biết Pyle đã đọc sách gì (Tôi đoán rằng không phải York Hardin hay Shakespeare, hay tuyển tập thơ của các thi sĩ đương đại, hay sinh lý trong kết hôn… có lẽ thắng lợi của cuộc sống). Một tiếng gọi ùa vào tháp canh và như bùng nổ ngay cạnh chúng tôi, nó như từ trong bóng tối, gần cái cửa sập bay lên một thứ tiếng ồ ồ của một cái loa nói điều gì bằng tiếng Việt.

– Đến lượt chúng mình rồi đó! – Tôi nói.

Hai người lính mặt quay về phía lỗ châu mai, há hốc miệng ra nghe.

– Gì thế nhỉ? – Pyle hỏi.

Khi đi qua gian phòng để ngó qua lỗ châu mai ra ngoài, tôi có cảm tưởng như tôi đang đi xuyên qua tiếng gì đó. Bên ngoài tối mịt không nom thấy gì. Tôi không nhìn thấy cả con đường và khi quay nhìn lại, tôi thấy khẩu súng trường đang chĩa thẳng, không hiểu vào tôi hay vào lỗ châu mai. Tuy nhiên, khi tôi đi men theo tường lần đi thì khẩu súng động đậy, lưỡng lự rồi chĩa vào tôi, tiếng nói bên ngoài vẫn nhắc đi nhắc lại những lời ban nãy. Tôi ngồi, nòng súng chúc xuống.

– Họ nói gì thế? – Pyle hỏi.

– Không hiểu. Tôi cho rằng họ thấy chiếc xe họ ra lệnh cho hai người lính phải trao cho họ, nếu không thì ăn đòn: Anh cầm khẩu súng lên, trước khi những người lính quyết định một điều gì.

– Nó bắn đấy.

– Chưa chắc. Khi nó đã quyết thì đằng nào nó cũng sẽ bắn.

Pyle nhấc chân lên và khẩu tiểu liên lộ ra.

– Bây giờ tôi men vào tường – Tôi nói – Nếu mắt nó nhìn theo tôi thì anh giơ súng ngắm nó.

Khi tôi đứng lên thì tiếng nói im bặt: chính sự im lặng lại làm tôi giật mình. Pyle quát gọn: “Bỏ súng xuống”. Tôi chưa kịp nghĩ xem khẩu Sten được lên đạn chưa (lúc này tôi cũng không thèm kiểm tra) thì người lính đã quẳng súng xuống.

Tôi đi ngang qua căn phòng và nhặt lấy. Lúc đó tiếng gọi lại vang lên. Tôi cảm thấy như người ta nhắc lại những âm tiết ban nãy. Có lẽ họ dùng một cái đĩa hát chăng? Tôi tự hỏi đến lúc nào thì tối hậu thư đó được chấm dứt.

– Và bây giờ thì điều gì sẽ xảy ra? – Pyle nói như một chú học sinh theo dõi một việc làm trong phòng thí nghiệm – Hình như hắn thấy số phận hắn không dính vào đó.

– Có lẽ đấy chỉ là một Việt Minh đi lẻ, cũng có thể họ có súng bazoka.

Pyle ngắm khẩu súng đang cầm.

– Xem bộ dùng không khó khăn lắm, hay tôi bắn xuống?

– Đừng, cứ để cho họ tính toán. Họ thường thích lấy được đồn một cách chắc chắn nhất và như vậy chúng ta càng thêm có thì giờ. Tốt hơn hết là chuồn cho nhanh.

– Biết đâu họ chẳng đón chúng tôi, tôi nói hai người đàn ông, nhưng tôi tin rằng tổng cộng số tuổi cả hai người lính thì chưa chắc đã tới bốn mươi.

– Còn hai tên kia? – Pyle hỏi, và nói tiếp một cách đơn giản đến đáng sợ – Lia cho họ một loạt đạn nhé?

Có lẽ hắn ta muốn dùng thử khẩu súng.

– Họ làm gì nên tội đâu?

– Nhỡ họ đem chúng ta nộp cho bọn kia thì sao?

– Cũng chẳng sao. Chúng ta có quyền gì được đến đây. Đây là đất nước của họ.

Tôi tháo băng đạn ra và vứt súng xuống sàn.

– Anh định để lại những thứ này ở đây sao?

– Tôi già quá rồi, sức đâu mà chạy vừa vác súng nữa. Vả lại cóc phải cuộc chiến của tôi. Đi nào.

Chiến tranh này không phải là của tôi, nhưng tôi muốn những người đang chờ trong bóng đêm kia cũng hiểu cho điều đó. Tôi tắt đèn, thõng chân qua cửa sập, khoắng tìm chiếc thang. Tôi nghe hai người lính thì thào với nhau bằng tiếng mẹ đẻ của họ, y như họ ngậm miệng mà hát.

– Tiến thẳng về phía trước – Tôi nói với Pyle – Hướng theo phía ruộng lúa. Nhớ rằng có nước đấy. Không rõ nông hay sâu. Sẵn sàng chưa?

– Sẵn sàng.

– Cám ơn bạn đã đến.

– Tôi mới là người phải cảm ơn.

Tôi nghe tiếng động đậy sau lưng. Bụng bảo dạ không hiểu họ có dao không? Tiếng trong loa có vẻ kiên quyết hơn, như để ra một cái hạn cuối cùng. Có cái gì sột soạt nhè nhẹ trên đầu chúng tôi trong đêm tối, nhưng có lẽ chỉ là một con chuột. Tôi lưỡng lự.

– Trời, bây giờ mà được cốc rượu mạnh nhỉ? – Tôi nói thầm.

– Lên đường đi.

Có cái gì đang leo lên thang, không nghe tiếng động nhưng thang cứ rung lên dưới chân tôi.

– Sao lại ngừng thế? – Pyle hỏi.

Không rõ tại sao trong đầu tôi sự chuyển động nhè nhẹ và câm lặng đó phải là một “cái gì” đang đến. Chỉ có một con người mới có thể leo thang được, tuy nhiên tôi không thể hình dung ra được đó là một con người giống như tôi, hình như đó là một động vật nào đó tiến lên để giết một cách bình thản và chắc là không hối tiếc, vì nó thuộc vào một loài khác. Chiếc thang rung lên, rung lên và tôi nhìn thấy ở phía dưới có những con mắt nhìn sáng rực. Bỗng nhiên, tôi không chịu đựng nổi, nhảy xuống và thấy là không có cái gì cả, chỉ có nền đất xốp hút chặt lấy một chân tôi và bẻ quặt nó ở chỗ mắt cá, y như có một tay người đã nắm chặt và vặn chẹo nó đi. Tôi thấy Pyle xuống từng nấc thang một và tôi hiểu rằng mình đã xử sự một cách ngốc nghếch như một tên nhát gan không nhận ra được sự run rẩy của bản thân mình. Thế là tôi cứ tự cho mình là một con người cứng gân cứng cốt không hề có đầu óc tưởng tượng, đúng kiểu một người quan sát giỏi và một phóng viên thực thụ. Tôi đứng lên và suýt nữa ngã xuống vì quá đau. Tôi đi về phía đồng ruộng, vừa đi vừa lê chân và nghe thấy Pyle tiến tới sau lưng. Đúng lúc đó, một viên đạn bazoka nổ tung trên tháp canh và tôi ngã sấp xuống.

 

Chương 24

– Anh có bị thương không? – Pyle hỏi.

– Bị va vào chân. Không có gì trầm trọng.

– Nào chúng ta đi lên – Pyle cố nài.

Tôi chỉ nhận ra hắn vì thấy hắn như bị một lượt bụi mịn và trắng phủ lên người. Nhưng rồi hình ảnh hắn lại biến mất, y như khi xem phim hình ảnh không rõ vì điện yếu, chỉ còn nghe tiếng nói. Tôi lại đứng lên bằng cách tì vào bên đầu gối còn nguyên vẹn và gắng đứng thẳng mà không tựa lên chân trái bị sai khớp, nhưng tôi lại ngã, đau đến đứt thở. Không phải đau ở mắt cá mà chân trái tôi bị thương ở một nơi nào đó. Tôi không còn ngại gì nữa, sự đau đớn làm mờ hẳn sự sợ sệt. Tôi cứ nằm ra đất, bất động, với hy vọng rằng cái đau không tìm thấy tôi, tôi nín thở, như người ta thường làm trong một cơn đau răng, tôi không nghĩ đến cả việc quân Việt Minh sắp tới để lục soát cái thápc anh vừa bị bắn sập. Một quả đạn nữa lại vừa trúng tháp và nổ tung. Trước khi tới, họ đề nhiều món tiền khổng lồ được đổ ra để giết vài nhân mạng, ngưòi ta giết những con ngựa với những tổn phí ít hơn. Tôi hình như chưa tỉnh hẳn vì tôi nghĩ lan man đến quê hương tôi, cái lò đó là sự khiếp đảm của tôi hồi nhỏ. Ở đó chúng tôi tưởng như còn vang lên tiếng súng ngắn bắn giết những con vật và tiếng hí khiếp sợ của chúng.

Có một lúc, nhờ tránh mọi cử động và nhất là tránh thở mạnh, điều này rất quan trọng, tôi thấy hết đau. Trong lúc tỉnh táo, tôi tự hỏi có nên bò ra cánh đồng không. Quân Việt Minh chắc không ai có thì giờ lùng kiếm thật xa. Một đội tuần tra sắp xuất hiện và tìm cách liên lạc với chiếc chiến xa thứ nhất. Nhưng tôi lại sợ đau hơn là sợ quân du kích và tôi lại nằm yên. Không có tiếng động nào cho hay hiện Pyle ở nơi nào, chắc hắn ta đã ra khóc ở phía tháp canh, hay đúng hơn là ở nơi trước kia là cái tháp canh. Đó không phải là tiếng khóc của một người lớn, người ta cho rằng đó là tiếng thút thít của một đứa nhỏ sợ bóng tối, nhưng không dám kêu lên. Tôi đoán rằng đó là một trong hai người lính trẻ, có lẽ người đồng ngũ của anh ta đã bị chết. Tôi hy vọng rằng khi Việt Minh đến, họ không cắt cổ anh ta. Người ta không nên đánh nhau với trẻ con, và tôi lại nhớ tới hình ảnh một thi hài nhỏ nằm co quắp trong một cái hố. Tôi nhắm mắt lại và điều đó như xưa không cho đau đớn tới gần tôi và tôi cứ nằm chờ, có tiếng ai đó kêu điều gì tôi không rõ. Tôi như có cảm giác rằng tôi có thể ngủ một giấc trong đêm tối cô độc và hết đau như thế này.

Tôi lại nghe tiếng Pyle thì thào:

– Thomas, Thomas!

Hắn ta đã nhanh chóng học được lối đi không gây ra tiếng động và tôi đã không nghe thấy tiếng bước chân của hắn.

– Anh cút đi! – Tôi trả lời rất nhỏ.

Hắn tìm ra tôi và nằm dài xuống bên cạnh.

– Tại sao anh không đi theo tôi? Anh bị thương à?

– Cái chân. Tôi chắc nó bị gãy.

– Bị đạn?

– Không, không, một mảnh gỗ, một hòn đá, hay một mảng tường và phải. Không thấy máu chảy.

– Anh phải cố lên một tí.

– Anh đi đi, Pyle. Tôi không muốn đi, đau lắm.

– Chân nào?

– Chân trái.

Hắn trườn sát người tôi, vắt tay tôi lên vai hắn. Tôi vừa muốn khóc thút thít như người lính trẻ gác tháp canh, lại vừa thấy bực dọc, nhưng không thể biểu thị sự phẫn nộ trong một tiếng thì thào được.

– Mặc kệ tôi, Pyle. Tôi muốn ở lại đây.

– Không thể ở lại đây được.

Hắn vừa lôi vừa lấy vai đỡ tôi và cơn đau lại trở lại không sao chịu nổi.

– Xin đừng chơi trò anh hùng rơm nữa, trời ơi tôi không muốn động đậy chút nào.

– Anh phải góp sức anh vào một tí chứ, không thì anh làm cho cả hai chúng ta bị bắt bây giờ.

– Anh…

– Im đi, họ nghe thấy bây giờ.

Tôi muốn khóc lên được vì tủi nhục, nói như vậy không phải là quá đáng. Tôi tựa hẳn lên người hắn, để cho bên chân trái thõng ra… chúng tôi nom như những người ục ịch chơi trò ôm nhau chạy bằng ba chân và tôi chắc là sẽ bị phát hiện ra ngay, nếu đúng lúc lên đường không có một khẩu đại liên nổ từng loạt đạn ngắn và nhanh đâu đó phía tháp bên cạnh: Có lẽ một đội tuần tra hay là quân Việt Minh hoàn thành mục đích hạ ba chiếc tháp canh như thường lệ. Tiếng súng trùm lấp tiếng chân chạy trốn chầm chậm và ngượng nghịu của chúng tôi.

Tôi không nghĩ mình đã tỉnh suốt dọc đường. Tôi chắc rằng hai mươi mét cuối, Pyle như đã cõng hẳn tôi đi.

– Cẩn thận – Pyle nói – Ta đi vào đây.

Những gốc rạ loạt soạt kêu quanh chúng tôi, bùn bắn tung tóe. Khi Pyle ngừng lại thì nước đã lên tới ngang lưng. Hắn thở hồng hộc, khiến tôi nghĩ đến tiếng một chú ễnh ương.

– Phiền anh quá – Tôi nói.

– Tôi không thể để anh nằm đó.

Lúc đầu tôi thấy rất dễ chịu, bùn và nước bó lấy chân tôi một cách mềm mại, chặt chẽ như một thứ băng đặc biệt, nhưng chẳng bao lâu rét lạnh làm hai hàm răng đánh vào nhau cầm cập. Tôi không hiểu đã đến đã đến quá nửa đêm chưa, giả dụ Việt Minh không tìm thấy thì cũng phải chịu đựng thêm sáu giờ nữa.

– Anh có thể dịch người một chút cho đỡ nặng không? – Pyle hỏi – Một lát thôi.

Thế là cơn giận dữ vô lý của tôi bỗng nổi lên, tôi không có lý lẽ nào đòi hỏi người ta đến cứu tôi, hay nói đúng hơn là đến đẩy lui giờ chết bằng cái giá là làm cho tôi đau đớn như thế này. Tôi đứng trên một chân như con cò để đỡ gánh nặng cho Pyle và khi cử động chúng tôi không thấy những gốc rạ cào cứa vào chân.

– Anh đã cứu tôi ở chỗ kia – Tôi nói – Để mang tôi đến chết nơi đây (Pyle hắng giọng, sắp sửa trả lời tôi bằng một câu nói công thức). Tôi thích chết ở nơi khô ráo.

– Anh đừng nói nữa thì tốt hơn – Pyle nói như để dỗ dành người ốm nặng – Phải tiết kiệm sức lực chứ!

– Ma quỷ nào xui anh cứu tôi. Tôi đến để chết ở cái đất này. Với cái thói chết tiệt là hay nhúng mũi vào việc của người khác.

Tôi lảo đảo chực ngã trên đất nhão và Pyle lại khoác tay tôi lên vai anh.

– Anh tựa tay vào đi – Hắn nói.

– Anh đã xem nhiều cuốn phim về chiến tranh quá đấy. Chúng mình không phải là hai tên lính thủy đổ bộ và người ta không thưởng huy chương thập tự danh dự cho chúng mình đâu.

– Suỵt, suỵt…

Chúng tôi nghe thấy tiếng bước chân đi xuống tới bờ ruộng. Trên đường, khẩu đại liên đã ngừng bắn và tất cả đều im lặng, ngoài tiếng chân đó và tiếng cây lúa xào xạc. Rồi những bước chân cũng ngừng lại, cách chúng tôi chỉ bằng chiều rộng của một gian phòng. Tôi cảm thấy trên vai lành của tôi sức bàn tay Pyle từ từ ấn xuống để tôi lún xuống bùn. Chúng tôi lún xuống chầm chậm để khỏi chạm mạnh vào gốc lúa. Một đầu gối quỳ xuống tôi ngửa đầu hết sức về phía sau, vừa đủ để mồm mũi thò lên trên mặt nước. Chân tôi lại đau nhói và tôi nghĩ, nếu ngất đi thì sẽ bị chết đuối. Từ xưa tôi vẫn sợ và ghét cái kiểu chết ngụp trong nước. Tại sao người ta không thể chọn một kiểu chết cho mình nhỉ? Không có mảy may tiếng động nào, có lẽ cách mười bước chân thôi thì họ hẳn nghe được tiếng sột soạt, tiếng ho, hay một tiếng hắt hơi. Trời, buồn hơi hơi quá. Nếu chỉ có mình tôi, nếu tôi chỉ chịu trách nhiệm về cái chết của mình tôi, không phải là cái chết của hắn, hắn bám lấy cái sống quá! Tôi lấy những ngón tay còn lại còn được tự do ấn chặt vào môi trên, theo lối của trẻ con khi chơi trốn tìm, nhưng cái muốn hắt hơi cứ dai dẳng mãi chờ lúc nổ ra, nhưng khi những người kia đứng chờ trong bóng tối như chỉ đợi có thế! Này hắt hơi này, này, này…

Nhưng đúng lúc cái hắt hơi phát ra thì quân Việt Minh nổ một tràng tiểu liên vào ruộng lúa… và tiếng hắt hơi chìm trong tiếng nổ đanh sắc, nghe như tiếng máy khoan đục lỗ trong một tấm thép. Tôi hít một hơi dài và ngụp đầu xuống, thế là khi cái chết yêu mến đến thì người ta lại theo bản năng mà chạy trốn nó. Chúng ta làm nũng với thần chết y như một người đàn bà cứ bắt người tình hiếp dâm mình. Những thân cây lúa bị quất mạnh, chúc xuống dưới làn đạn và cơn bão lửa đi qua. Cùng nhô đầu lên một lúc để thở, chúng tôi nghe thấy những bước chân đi xa dần về phía tháp canh.

– Thoát rồi – Pyle nói.

Tuy đau, tôi vẫn cứ nghĩ: Thoát cái gì nhỉ? Trước mắt tôi là sự già nua, một chân biên tập viên tại tòa soạn, sự cô đơn, còn đối với hắn, bây giờ rõ ràng là hắn đã buột miệng nói và nhanh nhảu quá. Rồi trong đêm tối, chúng tôi đứng đợi. Trên đường về Tây Ninh, một đám lửa ăn mừng bốc lên, lửa bùng cháy vui vẻ như trong một đêm hội hè.

– Cháy xe của tôi rồi.

– Hoài của, anh Thomas. Tôi chúa ghét những sự hủy hoại vô ích.

– Vừa đủ ét xăng cho chiếc xe bị đốt cháy. Anh Pyle có rét như tôi không?

– Không bao giờ rét như thế này.

– Hay chúng ta đi ra và nằm trên đường?

– Chờ họ đi hộ nửa giờ nữa.

– Tôi tỳ lên anh nặng quá.

– Chịu được, tôi còn trẻ mà.

– Anh ta đưa cái yêu sách đó ra để nói đùa, nhưng câu nói lại làm tôi lạnh người đi như gặp phải bùn nước vậy. Tôi muốn xin lỗi anh ta về những lời lẽ mà khi đau tôi đã thốt ra, nhưng nỗi đau của tôi lại lên tiếng:

– Đúng là anh còn trẻ. Anh có thể cho phép anh chờ đợi phải không?

– Tôi chẳng hiểu anh định nói gì, anh Thomas.

Chúng tôi đã cùng nhau sống mấy giờ dài bằng cả bảy đêm của một tuần, nhưng anh ta cũng chưa hiểu tôi, cũng như anh ta không hiểu tiếng Pháp vậy.

– Đúng ra anh cứ để tôi ở chỗ kia thì hơn – Tôi nói.

– Thế thì tôi còn mặt mũi nào mà nhìn thấy Phượng nữa.

Cái tên Phượng vừa nói ra đó giống như một con bài đối thủ vừa quật ra bàn, nằm giữa hai người, tôi chấp nhận sự thách thức.

– Thì ra vì Phượng mà anh đã làm những việc như vậy. (Cơn ghen của tôi lại càng lố bịch và nhục nhã, vì đáng lẽ phải được biểu lộ bằng những tràng lời lẽ như trên sân khấu, thì này chỉ có thể thì thào rất nhỏ với nhau). Anh tưởng rằng cái trò bịp đóng vai người hùng sẽ gây ấn tượng cho cô ta sao? Sao mà anh lầm vậy! Nếu tôi mà chết thì cô ta có thể thuộc về anh.

– Tôi không muốn nói thế. Nhưng, khi người ta yêu thì người ta cũng chịu chơi lắm chứ, thế thôi.

– Đúng vậy – Tôi nghĩ – Nhưng sự đời đâu có đơn giản như hắn tưởng. Khi yêu, người ta tự nhìn mình bằng con mắt của người khác, người ta thành ra yêu một hình ảnh của bản thân không còn nguyên vẹn vì được tô vẽ cho thanh cao hơn. Trong khi yêu không còn có thể thật sự vì danh dự mà hành động, cử chỉ anh hùng chẳng qua chỉ là một vai hề đóng trước một công chúng hai người. Có lẽ tôi hết yêu rồi, nhưng vẫn nhớ lại khi còn yêu.

– Ở vào địa vị anh thì tôi chuồn một mình – Tôi nói.

– Ồ, không phải thế đâu, đời nào anh lại làm thế, anh Thomas!

Và hắn nói thêm với một vẻ tự phụ không sao chịu nổi:

– Tôi hiểu anh hơn là anh tự hiểu mình.

Bực mình, tôi định đứng xa ra và gánh lấy cái trọng lượng của bản thân mình, nhưng cơn đau lại trở lại giống như một con tàu ầm ầm qua đường hầm và tôi lại phải tì lên hắn nặng nề hơn, trước khi ngã nhào xuống ruộng. Hắn hai tay ôm giữ lấy tôi rồi từng tấc, từng tấc kéo tôi lên cái mô đất bên lề đường. Khi lôi tôi tới được đó, hắn đặt tôi nằm ngửa trên bờ ruộng còn bị một lớp bùn mỏng kín và khi đỡ đau, hễ phải nín thở, mở mắt ra, tôi chỉ nhìn thấy những chòm sao vẽ trên nền trời những đường nét rắc rối như một thứ mật mã mà tôi không đọc nổi, những chùm sao không giống như ở quê nhà. Cái mặt của Pyle lại đảo đi đảo lại trên mặt tôi và che lấp những chùm sao.

– Tôi ra đường xuôi xuống để tìm một toán lính đi tuần.

– Đừng dại – Tôi nói – Họ sẽ bắn vào anh trước khi nhận rõ anh là ai. Ấy là giả dụ anh không bị Việt Minh quơ đi.

– Chỉ còn cách đó thôi. Không thể để anh nằm ở đất ướt sáu giờ nữa.

– Thế thì kéo tôi lên mặt đường.

– Để khẩu tiểu liên cho anh có can gì không? – Hắn ngập ngừng hỏi.

– Chẳng can gì. Nhưng nếu anh muốn chơi trò người hùng thi đi chầm chậm, và đi trên đồng ruộng.

– Nếu thế thì xe đi tuần chạy mất trước khi tôi kịp ra hiệu.

– Anh cũng thông thạo tiếng Pháp cơ mà?

– Tôi hét to: “Tô-ôi lờ – người Phạp đơ-ơi”. Đừng quá lo, anh Thomas ạ. Tôi sẽ hết sức cẩn thận.

Trước khi tôi kịp thì thào đáp lại, thì hắn đã đi rồi, đi hết sức êm lẹ, vừa đi vừa luôn dừng lại. Tôi có thể nom theo hắn nhờ ánh lửa của chiếc xe đang cháy lụi, không một tiếng súng nổ. Chẳng bao lâu hắn biến mất bên kia một chiếc xe cháy và cũng không còn nghe được tiếng chân của hắn nữa. Phải, hắn cẩn thận như hắn đã cẩn thận khi một mình chở mảng xuôi đến Phát Diệm, với sự chú ý tỷ mỷ như các nhân vật trong một cuốn truyện tranh viết cho trẻ con, hắn tự hào về sự cẩn thận của mình như tự hào về một chiếc huy hiệu hướng đạo sinh mà không biết rõ cuộc phiêu lưu của mình phi ký và bấp bênh như thế nào.

Nằm dài bất động, tai vểnh nghe, tôi chờ những loạt súng do Việt Minh hay quân lê dương bắn, nhưng không có điều gì xảy ra. Chắc hắn phải mất ít nhất là một giờ để tới tháp canh, lúc nãy xem còn lại những gì. Chỉ thấy đống đất, tre, kèo cột như đang lụi xuống cùng với ảnh lửa tắt dần. Sự bình an đến khi sự đau đớn không lên tiếng nữa, một sự đình chiến đối với cân não và tôi muốn hát to lên. Thật lạ lùng là những đồng nghiệp của tôi chỉ viết được từ những sự kiện như trong đêm nay một mẩu tin vặt vài dòng – Tôi tự nhủ như vậy. Đêm nay cũng giống như bao đêm khác duy chỉ sự có mặt của tôi là một ngoại lệ. Lúc này tôi lại nghe thấy tiếng khóc khàn đục từ một cái tháp đổ bay ra, một người lính chắc còn chưa chết.

Khổ thân anh ta – Tôi nghĩ, nếu chúng tôi không hỏng xe cạnh tháp canh anh ta, thì chắc anh đã kịp đầu hàng như mọi người khác thường đã đầu hàng, hoặc khi nghe tiếng loa gọi lần thứ nhất, đã kịp thời chạy trốn. Nhưng chúng tôi lại ở đó, hai người da trắng, vưói khẩu tiểu liên, và họ đã không dám động đậy. Khi chúng tôi xuống thì muộn quá đối với họ rồi. Tôi mang trách nhiệm về tiếng khóc trong đêm tối kia, tôi tự hào về việc mình được tự do tư tưởng, không dính dáng với cuộc chiến, nhưng những vết thương của người lính thật y như chính tôi đã gây ra bằng khẩu Sten này, như Pyle đã định làm. Tôi cố gắng vượt qua mô đất để lên đường cái. Tôi muốn tới cạnh anh lính kia. Đó là điều duy nhất tôi có thể làm, đến để chia sẻ nỗi đau đớn với anh ta. Nhưng cơn đau của bản thân đã làm tôi ngã ngửa ra sau. Tôi không nghe tiếng anh ta khóc nữa, tôi nằm yên và chỉ nghe thấy cơn đau của mình đập như một con tim quái ác, tôi nín thở và cầu xin ông trời mà tôi không hề tin: “Cầu trời cho tôi ngất hay chết hẳn đi”. Và tôi đoán rằng tôi đã ngất đi thật, vì tôi mê man không biết gì nữa cho đến lúc tôi mê thấy hai đôi mi mắt tôi bị nước đá đông cứng lại và có người định dùng đục cậy ra, khi đục, nhưng tôi không sao nói được và cái đục bắt đầu đục. Một bóng đèn điện bỗng bật sáng lên trước mặt tôi.

– Thoát rồi, Thomas! – Tiếng Pyle nói.

Tôi chỉ nhớ những tiếng đó, nhưng sau điều gì đã xảy ra như Pyle kể lại với những người xung quanh, thì tôi không nhớ gì, tôi huơ tay chỉ lung tung, nói cho mọi người biết có một người còn ở trong đống tháp đổ và phải cứu lấy hắn ta. Chắc chắn cử chỉ của tôi không có cái dáng dấp như anh chàng Pyle giàu tình cảm đã mô tả. Tôi tự hiểu mình, tự hiểu nỗi vị kỷ của tôi sâu xa đến mức nào. Tôi không thể yên ổn (mà sống yên ổn là nguyện vọng lớn nhất của tôi) khi có một người khác đang đau khổ trong tầm tai tôi nghe được, mắt tôi nhìn được, tay tôi sờ được. Những kẻ ngây thơ cho đó là lòng nhân từ, là sự vị tha, trong khi tôi chỉ hy sinh một sự bằng lòng nhỏ (lúc này là lúc việc chăm sóc cho vết thương của tôi) để đổi lấy một sự bằng lòng lớn hơn, là sự yên ổn của tâm hồn để sau đó được phép chỉ nghĩ đến mình thôi.

Họ đi rồi quay lại báo cho tôi hay anh lính đã chết, tôi nhẹ hẳn người. Khi mũi kim tiêm liều morphin cắm vào đùi tôi, tôi không còn thấy đau đớn gì nữa.

 

Chương 25

Tôi chậm rãi leo thang gác lên phòng tôi ở phố Catina, tới tầng một phải ngừng một lát để nghỉ lấy sức. Những bà già gần như thường lệ ngồi ở bậc thang, trước buồng tiểu, nói chuyện phiếm với nhau, nét mặt nhăn nheo như những đường số phận mà ta đọc trên bàn tay họ. Ho im tiếng khi tôi đi qua và tôi tự hỏi, nếu biết tiếng Việt thì tôi đã nghe được điều xảy ra khi tôi nằm tại bệnh viện của quân đội lê dương, trên đường đi Tây Ninh. Dọc đường tôi đã đánh rơi mất chìa khóa, nhưng tôi đã viết thư cho Phượng, thư chắc cô nhận được, nếu cô vẫn còn ở đây. Chữ “nếu” đó như tóm gọn tất cả những nỗi băn khoăn của tôi. Nằm viện, tôi không nhận được thư nào của cô, nhưng tôi hiểu là cô viết tiếng Pháp rất chật vật, còn tôi lại không biết tiếng Việt. Tôi gõ cửa, cửa mở ra luôn, tôi luôn thấy như không có điều gì khác trước. Tôi theo dõi cô rất kỹ khi cô hỏi han sức khỏe tôi, để tay vào chân tôi đang còn phải mang nẹp và chìa vai cho tôi tựa, y như người ta có thể tìm thấy chỗ dựa chắc chắn tại một cây non vậy.

– Tôi thật vui lòng khi trở về nhà chúng ta.

Cô ta nói là nhớ tôi nhiều và tất nhiên là điều tôi mong được nghe, giống như một người phu xe khi họ trả lời, cô ta bao giờ cũng nói ra những điều mình mong được nghe nhất, trừ phi bất ngờ và tôi đang chờ đợi cái điều bất ngờ đó.

– Cô giải trí như thế nào?

– Ồ, tôi lại bà chị chơi luôn. Bà ta đã tìm được việc làm ở Mỹ.

– A, thế ư? Pyle tìm hộ?

– Không phải Pyle mà Jo.

– Jo là ai nhỉ?

– Anh quên đấy thôi. Tuỳ viên thương mại.

– A, phải, đúng rồi.

Đấy là một con người mà người ta không sao nhớ nổi. Ngay tới bây giờ, tôi cũng không sao miêu tả nổi hắn, tôi chỉ nhớ lại cái bụng phệ, cặp má nhẵn thín lại xoa phấn, và tiếng cười hơ hớ, còn cá tính của hắn ra sao, tôi không nhớ nổi. Tôi chỉ biết hắn mang tên Jo. Có những người bao giờ cũng mang tên gọi tắt.

Phượng đỡ cho tôi nằm xuống giường.

– Cô có đi xem chiếu bóng không? – Tôi hỏi.

– Có một phim hay lắm chiếu ở rạp Catina.

Và cô ta lập tức kể lại nội dung chuyện phim một cách tỷ mỷ, trong khi tôi đưa mắt tìm cái phong bì trắng phải đựng một bức điện. Chừng nào tôi chưa hỏi thì tôi có thể tin rằng Phượng đã quên không nói lại với tôi, và chiếc bì thư có thể ở trên bàn, gần cái máy chữ hay trên chiếc tủ, hay là cẩn thận hơn, trong ngăn kéo nơi cô cất cái khăn choàng.

– … Viên thu ngân của sở dây thép (tôi cho đó là thu ngân, nhưng có thể đó là viên thị trưởng) theo dõi họ về tận nhà, mượn ông chủ hiệu bánh mì chiếc thang leo lên tận cửa sổ của Corin, nhưng cô ta lại chạy sang buồng bên với Phrăngxoa, hiểu không, cho nên anh ta không nghe thấy bà Bompie tới. Bà ta vào nhà, thấy anh ta trên thang, lại tưởng rằng…

– Bà Bompie là ai? – Tôi hỏi và quay lại nhìn bàn trang sức của Phượng, nơi cô tay hay để tờ giấy đánh dấu những việc cần làm giữa các chai lọ.

– Tôi đã nói rồi đấy. Là mẹ của Corin và đang kiếm một ông chồng vì bà ta góa bụa…

Phượng ngồi lên giường, luồn tay vào trong áo sơ mi của tôi.

– Phim vui lắm! – Cô nói.

– Hôn tôi đi, Phượng.

Cô ta không biết làm duyên. Bảo gì thì cô làm theo lời ngay, rồi lại kể tiếp chuyện phim. Cô ta như thế đấy, nếu bảo ngủ với tôi, thì cô liền tụt quần dài ra, sau đó chắc chắc lại kể tiếp câu chuyện phim ở chỗ bà Bompie bắt gặp ông thu ngân đang leo thang.

– Tôi có điện tín không?

– Có.

– Sao không đưa?

– Sao anh lại làm việc luôn như vậy? Anh phải nằm và nghỉ ngơi.

– Nhỡ không phải điện về công việc thì sao?

– Phượng đưa cho tôi phong bì và tôi thấy nó đã bị mở. Điện viết: “Yêu cầu gửi bốn trăm chữ về ảnh hưởng của việc De Lad về nước đối với tình hình chính trị và quân sự”.

– Đúng là điện về công việc. Sao cô biết? Sao cô lại mở điện ra xem?

– Tôi tưởng điện của vợ anh. Tôi hy vọng nhận được một tin tốt lành.

– Anh dịch cho cô?

– Tôi đưa bà chị.

– Nếu đó là một tin không vui thì Phượng có bỏ tôi không?

Cô ta xoa bàn tay vào ngực tôi để yên tâm, lần này cô không hiểu rằng tôi đang thèm nghe những lời nói, dù đó chỉ là những lời dối trá.

– Anh có hút một điếu không? Anh cũng có một lá thư đấy. Có lẽ của bà ta.

– Cô cũng mở ra xem chứ?

– Thư thì tôi không bóc. Điện là những thứ công khai. Nhân viên bưu điện vẫn đọc.

Chiếc phong bì nằm trong ngăn đựng khăn quàng. Cô dùng mấy ngón tay lôi ra và để nhẹ nhàng lên giường. Tôi nhận ra chữ người viết.

– Nếu đây là một không lành thì cô có…

Tôi biết trước là tin chỉ có thể là không hay. Một bức điện có thể là dấu hiệu của một thiện chí bột phát, một bức thư có thể là một sự thanh minh, bào chữa… cho nên tôi để câu hỏi lửng lơ, vì thật là không lương thiện khi van xin một lời hứa mà không ai có thể giữ nổi.

– Anh sợ điều gì? – Phượng hỏi.

Và tôi nghĩ: tôi sợ sự cô đơn, sợ câu lạc bộ báo chí, sợ cảnh nhà chứa. Tôi sợ Pyle.

– Cho tôi một cốc rượu pha với nước.

Trong khi chờ đợi có rượu, tôi đọc dòng đầu thư: “Anh Thomas thân yêu” và lời cuối thư: “Thân mến, Hellen”.

Thư của vợ anh phải không?

– Đúng.

Trước khi đọc thư, tôi cứ tự hỏi: đọc xong, tôi sẽ nói thật hay nói dối với Phượng?

“Anh Thomas thân yêu.

Tôi không ngạc nhiên khi nhận được thư anh và biết anh không sống một mình trong khi xa nhà lâu ngày được, phải không? Anh nhặt đàn bà như chiếc áo veston của anh hứng những hạt bụi. Tôi sẽ ái ngại cho tình cảnh của anh hơn nếu tôi không nghĩ rằng trở về London, anh cũng sẽ dễ dàng tìm thấy sự an ủi khác. Chắc anh không tin tôi nói rằng điều làm tôi suy nghĩ không cho phép tôi điện cho anh chức “không” cộc lốc, đó là vì tôi nghĩ đến cô gái đáng thương đang sống với anh, người phụ nữ bao giờ cũng hiến mình hơn những người đàn ông nhiều!”.

Tôi uống một hớp rượu. Toi đã không không hiểu rằng những vết thương trong quan hệ vợ chồng sau bao nhiêu năm vẫn chưa khép kín miệng. Tôi vô tình vì dùng chữ một cách vụng về đã làm những vết thương cũ của vợ tôi ứa máu. Bây giờ thì sao còn có thể trách là để đáp lại bà ta, đã cứa vào những vết sẹo cũ của tôi. Khi đau khổ, thường người ta hay làm tổn thương lẫn nhau.

– Tin dữ à? – Phượng hỏi.

– Cũng khá ác – Tôi đáp – Nhưng bà ta có quyền.

Tôi tiếp tục đọc:

“… Tôi đã tưởng trong bọn chúng tôi, anh yêu nhất cô Anne, cho tới lúc anh cuốn gói và biến mất. Và đến bây giờ là lúc anh định bỏ một người đàn bà khác, vì tôi xem giọng thư của anh thì cảm thấy thật sự không mong chờ ở tôi sự trả lời thuận lợi cho anh. Nếu tôi trả lời: “Đồng ý” thì anh sẽ quyết định sao đây? Anh có định lấy cô ta làm vợ hay không? (Tôi bị buộc phải dùng chữ cô ta vì anh không cho tôi biết tên cô ta là gì). Có lẽ như thế đấy. Tôi phỏng đoán rằng anh ngày càng có tuổi và lo sợ phải sống cô đơn. Bản thân tôi lắm lúc cũng thấy đơn độc quá. Tôi nghe tin Anne đã có người bạn đời khác. Nhưng anh đã xa cô ta đúng lúc”.

Bà ta đã thấy đúng đâu là vết thương chưa khép kín miệng. Tôi uống một tợp rượu nữa. “Cắt chỉ ở vết thương”, thành ngữ này bỗng xuyên qua óc tôi.

– Để tôi tiêm cho anh một điếu thuốc – Phượng nói.

– Gì cũng được, gì cũng được.

“… Vì lẽ trên, trong số những lẽ khác, tôi có bổn phận trả lời anh là “không” (không cần nêu ra đây những lý lẽ về giáo lý, vì anh có hiểu và còn niềm tin đâu!). Việc anh đã làm chồng, ai cũng không cấm được anh bỏ người đó phải không? Điều này chỉ làm anh lùi ngày về nước lại và như vậy càng thêm thiếu trung thực với ngời đàn bà trẻ đó, nếu anh đã sống với cô ta cũng lâu như sống với tôi. Anh sẽ đưa cô ta về Anh quốc, nơi cô thấy mình bị lạc lõng và xa lạ và khi anh bỏ cô ta thì cô ta sẽ thấy mình bị hắt hủi một cách tệ bạc biết mấy! Tôi tin rằng đến cầm con dao ăn và chiếc dĩa, cô ta cũng không biết nữa. Tôi nói rất tàn nhẫn, vì tôi đang nghĩ đến lợi ích của cô ta hơn là nghĩ đến lợi ích của anh. Nhưng, anh Thomas, thế cũng là nghĩ đến anh đấy!”.

Tôi buồn nôn thật sự. Lâu lắm tôi không nhận được thư của vợ. Nay tôi buộc bà ta phải viết và tôi thấy nỗi đau của bà ta toát ra từ mỗi dòng. Nỗi đau của bà ta đánh vào nỗi đau của tôi: chúng tôi trở lại con đường mòn làm khổ lẫn nhau. Nếu tình có thể không là lụy nhỉ? Trung thành với nhau chưa phải là đủ. Tôi đã trung thành với Anne, nhưng tôi vẫn làm Anne đau khổ. Khi đựơc yêu là người ta tự chuốc lấy khổ đau, chúng ta nhỏ bé quá cả về phần xác lẫn phần hồn, để khi chiếm đoạt ai lại không tự kiêu, hoặc bị lệ thuộc vào ai mà không tủi nhục. Mặt khác, tôi hài lòng vì lại bị vợ xỉ vả, lâu nay tôi đã quên nỗi đau của bà và bà chỉ có cách bù lại là mạt sát tôi. Nhưng khốn thay những kẻ vô tội bao giờ cũng bị lôi vào bất kỳ sự xung đột nào. Ở mọi nơi, mọi lúc đều có một tiếng than khóc cất lên từ một tháp canh.

Phượng thắp chiếc đèn nhỏ lên.

– Bà ấy cho anh lấy tôi không?

– Tôi vẫn chưa rõ.

– Bà không nói à?

– Nếu có nói thì bà cũng phải viết dài lắm.

Tôi thấy tự mình khoe khoang là không đứng về bên nào, là phóng viên chứ không phải là nhà bình luận, nhưng thực ra tôi đứng ở hành lang mà lại gây ra bao đổ vỡ. Chính ra đánh nhau thực sự lại không độc ác bằng. Dùng súng cối mà bắn lại gây ít đổ vỡ hơn.

“Nếu tôi hành động ngược lại với niềm tin tưởng sâu xa nhất của tôi và tôi nói “đồng ý”, thì có phải là hành động về lợi ích của anh không? Anh biết rằng anh bị gọi về nước và tôi hiểu rằng anh sẽ ghét cay đắng cuộc sống ở đây và sẽ làm bất cứ điều gì để cho nó dễ chịu hơn. Tôi như nhìn thấy anh quyết định lấy một người vợ sau khi uống quá một chén rượu. Lần đầu, chúng ta đã thành thật cố gắng – anh cũng như tôi – và chúng ta đã thất bại. Lần thứ hai người ta không cố gắng với nghị lực ngang với lần thứ nhất. Anh đã nói nếu anh mất tôi thì đời anh không còn gì nữa. Xưa kia, viết thư cho tôi, anh đã dùng câu nói như vậy. Tôi có thể đưa anh xem lại thư, tôi còn giữ nó đây… và tôi đoán anh cũng viết cho Anne câu đó. Anh nói rằng hai chúng ta đã luôn nói với nhau nghe sự thật, nhưng anh Thomas ơi, sự thật đối với anh tại sao chỉ có giá trị nhất thời như vậy. Tranh luận với anh làm gì, cố gắng nói anh hiểu lẽ phải làm gì? Điều dễ dàng hơn đối với tôi là hành động theo niềm tin của tôi, theo cái mệnh lệnh phi lý, chắc anh sẽ nghĩ vậy và viết cho anh mấy chữ: Tôi không tin rằng nên ly hôn, đức tin của tôi cấm làm điều đó, vậy câu trả lời của tôi là: “không”, anh Thomas ạ, không”.

Trước khi kết thúc bằng lời chào “thân ái, Hellen” thư còn nửa trang nữa mà tôi không đọc. Tôi tin rằng cuối thư là phần bà ta cho tôi biết tin tức về thời tiết và về bà cô già mà tôi rất yêu quý.

Tôi không có quyền được trách móc và tôi cũng chờ một thư trả lời như vậy. Những điều nói trong thư phần lớn là đúng sự thật. Tôi chỉ ao ước rằng vợ tôi không nói thẳng ra một cách dài dòng như vậy, vì những ý nghĩ đó làm bà ta đau khổ cũng chẳng kém gì tôi.

– Bà ta không đồng ý à?

– Tôi trả lời gần nhưng không do dự:

– Bà ta chưa quyết định ra sao cả. Vẫn còn có hy vọng.

Phượng phá lên cười và nói:

– Anh nói còn hy vọng, mà mặt anh lại dài như thế kia!

Phượng nằm dưới chân tôi như một con chó săn trên mồ người lính thập tự chinh và nhào viên thuốc phiện trong khi tôi tự hỏi xem nên nói năng với Pyle ra sao đây. Khi hút xong điếu, tôi thấy mình sẵn sàng đương đầu với tương lai hơn và tôi nói với Phượng rằng thực sự có hy vọng, vợ tôi đang tham khảo một luật sư về vấn đề này. Ngày một ngày hai, tôi sẽ nhận được một bức điện, nó sẽ là sự tuyên bố giải thoát cho tôi.

– Việc đó không quan trọng. Anh nên gửi vào ngân hàng cho tôi hẳn một khoản tiền.

– Tôi thấy rõ những lời đó là lời bà chị đã mớm cho cô.

– Tôi không có khoản tiền để dành nào và không đua với Pyle được.

– Anh yên tâm. Chắc sẽ tìm ra cách. Bà chị tôi nói anh có thể mua một suất bảo hiểm sinh mệnh của tôi.

Tôi thán phục tính thực tế của Phượng. Cô không cần làm thấp giá trị của đồng tiền hoặc chỉ đòi tôi huyênh hoang tuyên bố về yêu đương thay cho những hứa hẹn thiết thực. Tôi tự hỏi Pyle trong những năm tháng sau này làm sao có thể chịu đựng được một sự thẳng thừng về một tiền bạc như thế, vì hắn là người thơ mộng, nhưng hoàn cảnh hắn cho phép một khoản tiền lớn, và sự cứng rắn của Phượng có thể dịu hẳn đi, giống như một bắp thịt lúc không cần lên gân thì có thể chùng hẳn. Những người giàu về mặt nào cũng sẽ là kẻ thắng.

Tối hôm đó, trước khi các hiệu phố Catina đóng cửa. Phượng đã mua được ba khăn choàng lụa mới. Cô ngồi trên giường trải ra cho tôi xem với những tiếng reo vui khi ngắm những màu rực rỡ và tiếng nói như hát của cô đầy ắp gian phòng, rồi cô gấp lại cẩn thận, cất vào ngăn kéo cùng với một tá những chiếc khác, y như cô xây dựng cơ sở đầu tiên cho một gia sản nhỏ bé. Và tôi cũng đặt nền tảng lung lay cho gia sản của tôi bằng việc viết một lá thư cho Pyle ngay tối hôm đó, trong khi hơi thuốc đang còn và tạo ra một sự sáng suốt.

Tôi viết: “Anh Pyle thân mến” và có lẽ là lần duy nhất tôi toan gọi “Andon thân mến”, vì đây là một lá thư khá quan trọng, viết có dụng tâm, lại cũng như các thư có dụng tâm khác, ít nhất nó cũng chứa một lời nói dối

“Anh Pyle thân mến, tôi muốn viết từ bệnh viện để cảm ơn anh về những việc đêm hôm nọ. Anh rõ rằng là đã tránh cho tôi một cái chết không thú vị chút nào. Bây giờ tôi đã đi lại được, nhưng phải chống gậy. Hình như tôi bị thương vào chỗ ít tai hại nhất và tuổi tác tôi chưa đến nỗi làm xương cốt phải mủn ra. Chúng ta phải ăn mừng bằng một cuộc liên hoan nhỏ trong một ngày gần đây. (Ngòi bút tôi viết đến chữ “ăn mừng” thì bị chững lại giống như một con kiến gặp vật cản bắt nó phải đi vòng). Tôi có một việc khác để mừng và chắc anh cũng chia vui, vì anh thường nói rằng lợi ích của Phượng là nỗi quan tâm chung của hai chúng ta mà. Khi về nhà, tôi nhận được một lá thư của vợ gửi tới trong lúc tôi đi vắng và bà ta ít nhiều chấp nhận việc ly hôn. Vậy anh khỏi phải lo cho số phận Phượng…”. Câu nói này thật ác, nhưng chỉ thấy nó ác khi đọc lại, và bây giờ thì không chữa được nữa. Nếu gạch xóa những chữ đó, thì xé thư đi còn hơn.

– Anh thích chiếc khăn nào? – Phượng hỏi – Tôi rất mê chiếc khăn màu vàng.

– Đúng. Chiếc màu vàng. Bây giờ cô bưu điện bỏ hộ lá thư này nhé.

Cô nhìn tên người nhận thư.

– Tôi đem thẳng ra Tòa lãnh sự. Như vậy tiết kiệm được một con tem.

– Tôi lại thích cô cứ gửi qua bưu điện.

Bây giờ tôi ngả người ra đằng sau, và trong cơn sảng khoái nhờ thuốc phiện, tôi nghĩ: Ít ra cô ta cũng không bỏ mình trước khi về nước, biết đâu đấy! Ngày mai, hút xong vài điếu, có lẽ bằng cách này hay cách khác, tôi cũng tìm ra cách ở lại.

Những công việc lặt vặt cụ thể hằng ngày tiếp tục chính nhờ thế mà nhiều người khỏi phải mất trí. Nếu trong một đợt ném bom không thể lúc nào cũng sợ hãi thì trong công việc hằng ngày những cuộc gặp gỡ không định trước, những sự lo lắng cho công việc chung, khiến người ta quên đi trong nhiều giờ liền nỗi khiếp sợ của cá nhân. Cái ý nghĩ rằng tháng tư đang tới gần, tôi phải rời Đông Dương và việc không thể hình dung nổi một tương lai không có Phượng, đã bị khuây đi nhờ một bức điện hằng ngày, những thông cáo báo chí Việt Nam và những khó khăn gây ra bởi bệnh tật của người trợ tá của tôi. Anh này là người Ấn Độ mang tên Dominge (gia đình anh ta đi từ Goa qua Bombay rồi đến đây). Anh ta thường thay mặt tôi theo dõi những hội nghị báo chí quan trọng nhất, anh ta có một bộ tai rất thính, nắm bắt được những màu vẻ của công luận cũng như những lời bàn tán riêng tư. Anh ta đưa những bức điện tôi viết ra bưu điện hay phòng kiểm duyệt. Nhờ những bạn đồng hương buôn bán, nhất là ở miền Bắc Hải Phòng, Hà Nội và Nam Định, anh ta có một mạng thông tin mật riêng dành cho tôi, và tôi tin rằng anh ta còn biết rõ hơn Bộ Tổng Tư lệnh Phá, về vị trí đóng quân của các tiểu đoàn Việt Minh tại châu thổ sông Hồng. Bởi lẽ chúng tôi không bao giờ sử dụng những tin tức thu lượm được trước khi chúng đựơc đưa thành những tin công khai và cũng không hề cho cơ quan mật vụ Pháp biết. Dominge đã tranh thủ được lòng tin và tình bằng hữu của nhiều phái viên Việt Minh ẩn náu ở Sài Gòn – Chợ Lớn. Tuy anh ta có tên Âu, nhưng lại là người Á, điều này chắc đã là sự đóng góp tiện lợi vào tình hình đó.

Tôi rất quý Dominge. Khi những người khác trưng sự kiêu ngạo của mình ra như một thứ bệnh ngoài da, động khẽ vào đã phản ứng, thì niềm tự kiêu của anh ta rất kín đáo, thu lại đến mức nhỏ nhất với một con người bình thường. Trong sự tiếp xúc hằng ngày với anh ta, người ta chỉ thấy sự dịu dàng, sự nhún nhường và sự tuyệt đối tôn trọng sự thật. Có lẽ phải là vợ anh ta mới phát hiện ra được niềm tự kiêu của anh ta. Có lẽ chân lý và khiêm tốn đi với nhau, còn tính kiêu căng của chúng ta đã sinh ra bao nhiêu điều dối trá. Trong nghề nghiệp của tôi, ai mà chẳng mắc tính hiếu thắng của người phóng viên, ý muốn được đưa những bài có giá trị hơn những người khác?… nhưng chính Dominge là người đã dạy tôi nên thản nhiên, giúp tôi chịu đựng khi có những bức điện của tòa soạn, chất vấn tại sao không đưa tin về những chi tiết do một người nào đó đã phát hiện mà tôi biết tỏng là bịa đặt.

Từ khi anh ta ốm, tôi mới hiểu tôi đã phải mang ơn anh ta như thế nào. Anh ta lo tới cả việc xe tôi lúc nào cũng đầy đủ xăng, nhưng không hề động chạm đến đời tư của tôi, dù bằng một câu nói, một cái nhìn. Tôi tin rằng anh ta theo Thiên Chúa giáo như, nhưng không có gì làm bằng, ngoài cái tên à nơi anh ra đời. Qua những câu chuyện nói với nhau, tôi hiểu anh có thể tôn thờ Kristina, hoặc hàng năm đi hành hương trong một cái gông bằng dây thép gai tới tận động Batu. Nhưng chính vì anh ốm mà tôi thành bận bịu, do thế thoát khỏi sự lo lắng về việc riêng tư của mình, bệnh của anh trở thành một điều tốt lành đối với tôi. Bây giờ chính tôi phải đi dự những buổi họp báo tẻ ngắt, rồi tập tễnh ra khách sạn Continetal để chuyện phiếm với những đồng nghiệp, nhưng tôi không sành sỏi như Dominge trong việc phân biệt thực hư, bởi vậy đêm đến thường tôi tới nhà anh để thảo luận về những tin tức tôi nhận được. Đôi khi tôi gặp một vài người bạn Ấn Độ của anh, ngồi trên đầu chiếc giường sắt hẹp trong căn nhà mà Dominge chỉ có một góc, nhà nhìn ra một phố nghèo khổ nhất liền kề với đại lộ Galieni

(còn tiếp)

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s