BÙ KHÚ TIÊN SINH – tiếp theo và hết

TÁC GIẢ

TÁC GIẢ

CHƯƠNG 17

Mười bốn tuổi, nhà không có gì ăn, Ka Anh mang gùi, cầm cây xà-gạt đi vô rừng.

Cô sống năm năm đơn độc ở đó. Mười chín tuổi, đêm nọ, khi cô đang ngủ chợt cảm thấy có ai nằm cạnh mình, quay lại, bị hôn ngay miệng. Đó là một gã thợ rừng. Cô bỏ chạy ra suối rửa mặt, súc miệng.

Ít lâu sau gã người kinh ấy ngỏ lời cầu hôn, gia đình Ka Anh hỏi : “Cha mẹ đâu ?” Anh ta nói mình lớn lên trong trại mồ côi. Không biết quê quán. Không biết cha mẹ. Chị Ka Anh hứa: mày lấy Ka Anh tao cho mẫu chè. Nó chịu. Nhưng đêm tân hôn nó bỏ đi nhậu với tụi thợ rừng. Ka Anh nằm một mình buồn quá. Khóc. Nửa đêm ra ngoài tìm chồng. Đi ngang nhà thờ nghe tiếng thánh ca. Đó là lần đầu tiên Ka Anh không hát cho ca đoàn trong đêm Giáng Sinh mà lại lang thang trong đêm tối. Không một ai trên đường. Không một ai trong buôn làng còn thức.

Hai mươi tuổi Ka Anh có bầu. Người chồng bán mẫu chè và bỏ đi biệt tích. Ka Anh lại vô rừng ở lần thứ hai. Không tiền bạc. Không của cải. Nhưng rừng là nhà của cô. Vẫn còn những củ mài, măng tre, lá bép và suối.

Nhà của Ka Anh ở lưng chừng đồi. Nó mảnh khảnh và tơi tả. Sáng sớm cô gùi củ mài và măng ra buôn đổi thực phẩm. Hai mươi cây số đường rừng.

Ngày nọ trên đường về, cô gặp hai thằng con trai đứng chặn đường ngay cây cầu khỉ bắc qua suối.

“Đưa trái thơm thì cho qua.”

Trong gùi của Ka Anh có gạo. Và hai trái thơm. Cô lấy ra một trái, hỏi:

“Có phải trái này không?”

“Hai trái mới được.”

“Vậy tôi đếm đến hai nhé. “

Và đếm: Một… Tiếng « hai » chưa kịp thốt ra thì một gã con trai đã bị đá văng xuống suối. Gã còn lại ngoan ngoãn tìm cách kéo đồng bọn lên. Bỏ chạy.

*

Nhưng lại có một gã to con hơn. Râu quai nón, tóc dài. Gã không chặn đường. Không chọc ghẹo. Gã theo dõi. Lén lút. Giấu mặt. Ban đầu Ka Anh rất sợ. Lần thứ hai, lần thứ ba vẫn không ra mặt. Khi thì theo sau, khi đi song song, lẩn trong cây rừng, khi ẩn hiện phía trước, có lúc từ trên ngọn cây cao nhìn xuống.

Nhiều tuần trôi qua như vậy. Ka Anh không còn cảm thấy bị đe dọa. Gã giống như người được thần rừng sai đi bảo vệ cho cô. Ngay cả trong đêm, cô không thấy hình dáng của gã nhưng những tiếng động gã gây ra cũng rất quen thuộc. Vì không sợ nữa nên cô lại hát. Có thể gã không phải là người. Vì làm sao lại có người bỏ công theo đuổi suốt ngày đêm như vậy?

Lại có khi Ka Anh rình gã. Thấy gã từ trên ngọn cây nhảy xuống, nhanh như một con vượn. Râu tóc rất dài. Nhưng mặt là mặt người. Một người đàn ông cao lớn và cũng có thể gọi là đẹp trai. Đến khi gã phát hiện mình bị theo dõi thì trốn biệt. Biến mất trong rừng dày. Suốt một tuần không hề thấy tăm hơi. Chỉ có một lần Ka Anh tắm suối. Cô để ngực trần. Chợt nghe tiếng động trong nhánh cây thấp. Cô ngừng hát. Nhưng vây quanh cô chỉ là những tầng tầng lớp lớp lá rừng dày đặc. Rừng cũng đang nín thở, nghe ngóng.

Cô nghĩ rằng gã đã bỏ đi nơi khác rồi. Và từ đó cô không bận tâm đến gã nữa.

*

Cái thai lớn dần, Ka Anh thấy thèm chua. Mà ổi thì mới ra hoa. Trong rừng không có quả gì. Cô đi lang thang bên suối tìm lá giang nhưng không có. Chỉ gặp một bụi lá bứa chua chua chát chát. Nhưng rất là ngon. Ăn một bụng, còn để dành cho ngày hôm sau.

Nhưng hôm sau đến, thì thấy một con bò rừng đang ăn khóm lá bứa của mình. Nó to quá. Không đuổi đi được. Đành phải chạy đến tranh ăn với nó.

Và hôm sau nữa thì không còn gì để ăn.

Cơn thèm chua lại đến. Cô vuốt ve cái bụng bầu của mình. Con ơi. Mẹ đói như thế này thì làm sao con no được?

*

Ngày kia có một chàng trai lạ bơi qua suối.

Chàng ta nhìn thấy một cô gái hai mươi tuổi, mang bầu và ở một mình trong rừng. Lễ vật của chàng là một nửa gùi sim chín. Chàng hái sim trên đồi cù.

“Cô ở đây có một mình sao?”

“Tôi thích ở một mình.”

“Chồng đâu ?”

“Không có chồng.”

“Sao có bầu ?”

Hôm sau chàng trai lại đem đến một nửa gùi bắp. Lần thứ ba là muối. Chàng trai rủ Ka Anh đi hái sim. Họ đi từ sáng và đến đồi cù vào giữa trưa. Sim dày đặc, trái chín đen cả một vạt rừng. Gió mát quá. Ka Anh len lỏi giữa những bụi sim cao ngang mặt. Hai người tung tăng như hai con nai nhỏ hồn nhiên.

Chợt nghe tiếng thở của con thú lớn. Một con cọp đang ngủ say. Chàng trai cầm cái xà-gạt thủ thế. Ka Anh lùi lại. Cô thấy con cọp cũng hiền lành khi nó ngủ. Chàng trai nói:

“Cô giữ cái đuôi đi. Tôi sẽ cho nó một nhát.”

Ka Anh thích trò chơi đó. Cô chụp lấy cái đuôi con cọp. Nó giật mình thức dậy. Gầm lên một tiếng. Nanh vuốt giương ra hết cỡ. Chàng trai ném cây xà-gạt bỏ chạy.

Ka Anh không còn sự chọn lựa nào ngoài việc giữ chặt cái đuôi khủng khiếp của con mãnh thú. Người và thú xoay vòng tròn. Cô gồng mình, mười ngón chân cày xới mặt đất tóe máu. Mặt đất cũng rách nát.

Quần áo Ka Anh thì tả tơi, tóc bê bết mồ hôi, sợi dây chuyền bằng hạt cườm đứt tung, vung vãi trong cỏ gai. Cô bắt đầu đuối sức nhưng không dám buông tay vì buông tay là chết. Trong giây phút tuyệt vọng ấy, một đám thợ rừng xuất hiện, la hét. Ka Anh buông cái đuôi ra, ngã quỵ trên vòng tròn nham nhở đất cát.

Cọp phóng vào rừng.

Cô lại trở về căn nhà sàn tả tơi của mình.

Một đêm trăng mờ, chàng trai hôm trước lại bơi qua suối. Lần này anh ta không đem theo quà. Lặng lẽ bước lên cầu thang, ngồi xuống bên bếp lửa. Ka Anh đang vá lại cái xà-rông rách nát do quần nhau với cọp hôm trước. Hai ngưòi đều không nói lời nào. Cuối cùng chàng trai lên tiếng:

“Anh có lỗi với em.”

Im lặng.

“Hãy cho anh ở lại đây đêm nay.”

“Về đi!”

“Hãy cho anh ở lại.”

“Tôi bảo anh về!”

“Nếu không về thì sao?”

Ka Anh ném cái xà-rông xuống sàn nhà, hỏi:

“Anh nghĩ gì về một cô gái dám sống một mình trong rừng?”

“Anh thương em.“

“Bây giờ anh có đi về không?”

“Hãy cho anh ở lại.”

Ka Anh bước lại phía vách lá, đẩy cánh cửa sổ.

Không phải ánh trăng lùa vào. Không phải gió lùa vào. Mà một đàn dơi rừng như cơn bão đen từ địa ngục lùa vào.

Chàng trai biến mất trong chớp mắt. Chỉ còn là một khối đen có cánh, lúc nhúc và rối rít. Chàng trai mang cả bầy dơi trên lưng, nhảy xuống đất, phóng xuống suối.

Đàn dơi tung mình lên. Lấp lánh ngàn đôi cánh của bóng tối.

Ka Anh lại ngồi bên bếp lửa, tiếp tục vá cái xà-rông.

*

Cái thai vẫn tồn tại sau trận ác chiến với con cọp nhỏ. Đến ngày, Ka Anh về buôn ở với mẹ. Nửa đêm bụng đau thắt. Mẹ bảo cô ngồi xổm, hai tay nắm chặt thành giường. Đứa con ra đời, được cắt nhau bằng một sợi chỉ.

Ba tháng sau Ka Anh lại đưa con vào ở trong rừng. Ở được một tháng thì có cơn bão đến. Rừng núi chuyển động. Đồi chè chuyển động. Ngôi nhà sàn lắc lay như cái tổ chim. Mưa trút xuống giận dữ. Trời gầm thét. Và núi cũng  đáp lại bằng những tiếng rú.

Căn nhà sàn bay xuống đồi như một chiếc lá khô. Vừa bay vừa xoay vòng. Ka Anh gùi con sau lưng, ôm lấy cột nhà. Và bay đi như đang cưỡi lên một cánh diều. Cô nghĩ rằng hai mẹ con sẽ bị ném xuống hẻm núi và sẽ chết. Cuối cùng cô quyết định mở cánh cửa. Ôm con trước ngực. Và lao ra ngoài.

Hai mẹ con lăn lóc trên sườn đồi. Tấp vào những bụi chè. Và sống sót.

Sau cơn bão, những người hái chè quanh đấy xúm lại dựng tạm cho cô một túp lều. Lều cất xong, các chàng trai trong buôn săn được một con đỏ, làm tiệc. Ka Anh đi hái mồng tơi được một rổ đầy, đem rửa bên bờ suối. Bọn thanh niên xúm lại vừa nhặt rau vừa chơi trò bóp trái mồng tơi quẹt lên mặt, đùa giỡn náo động cả một góc rừng.

Bỗng nhiên nghe tiếng khóc. Già Làng hỏi:

“Đứa nào khóc?”

Ông chạy ngược lên đầu suối, thấy hoa mồng tơi trôi đầy trên mặt nước. Trên hòn đá chỉ còn mình Ka Anh ngồi khóc, xòe hai bàn tay che lấy ngực. Già Làng hỏi:

“Ai làm gì?”

“K’ Đùng bôi mồng tơi lên ngực con.”

Già Làng chỉ cười, lội xuống suối vớt cái rổ rau lên.

“Nín đi.“

Nhưng Ka Anh tức quá không nín được.

Buổi tối khi mọi người đã về hết, còn lại một mình với rừng đêm, cô thấy mình sống lại, thanh thản, tự do giữa trời và đất, giữa mây và núi. Đứa con đã ngủ yên bên bếp lửa. Ka Anh đi chân đất, bước xuống các bậc thang. Bàn chân dẫm trên những lá cỏ ướt. Mặt đất phẳng lặng.

Ban sáng bông cỏ may có màu tím đỏ, xế chiều nó cháy rực lên như lửa. Còn bây giờ dưới ánh trăng mờ đục, bông cỏ may tỏa ra một vùng sáng bạc hư ảo, chập chờn, lãng đãng như sương khói. Đó là thế giới của cô. Lặng thinh, tĩnh mịch, thầm kín.

 

18Bù Khú chở Ka Anh trên xe máy đi về phía ngôi mộ của Đào. Họ đắp thêm đất lên đó và trồng rất nhiều hoa Mười Giờ phủ kín nấm mộ. Cỏ trên đồi xanh rờn như một thảm nhung phẳng. Ka Anh đi ra xa tìm mấy củ cỏ gấu cất trong cái túi thổ cẩm nhỏ đeo bên hông, còn Bù Khú thì nằm bên nấm mộ và hút thuốc rê. Ông nghe tiếng những con chim chào mào hót đâu đó trong tàn cây và thấy tâm hồn mình như muốn tan theo cơn gió. Những cơn gió rất mỏng, chảy qua tâm thức ông làm cho nó mụ mị, mơ hồ, bất định.

Ka Anh trở lại với rất nhiều cỏ gấu. Cô níu Bù Khú ngồi dậy. Họ lại vượt qua một con dốc cao mới tới được ngôi làng nhỏ của người Mạ.

Trên đỉnh dốc là một vùng đất bằng phẳng vàng cháy và trơ trụi. Bù Khú không thể tưởng tượng được rằng giữa vùng rừng núi bạt ngàn này lại có một ngôi làng cằn khô như thế. Như ốc đảo trong sa mạc. Như một thị trấn hoang sơ của miền viễn tây Hoa Kỳ cách đây 200 năm.

Hai bên con đường đất bụi mù là những ngôi nhà gỗ lụp xụp ủ rũ dưới nắng cháy. Những ngõ cụt màu nâu đỏ mất hút sau các vách ván so le, vỡ nát, thủng lỗ. Không một bóng người. Không tiếng chim. Không tiếng heo gà. Ngôi làng lạnh lẽo dưới nắng chói.

Rồi đột nhiên hàng chục đứa trẻ từ trong các ngõ ngách hiện ra. Đứng như trời trồng, Không nói. Không cười. Không cử động. Chỉ thấy những cái bụng ỏng và những cặp mắt đầy ghèn.

Mình đang lạc vào thế giới nào vậy?

Những đứa trẻ như vừa mọc ra từ đất. Chúng như những bụi xương rồng lùn tịt, khẳng khiu trên cát nóng. Chúng đang thủ thế với mình hay đang chào đón?

Dường như sắp xảy ra một cuộc đấu súng.

Những chàng cao bồi nhỏ thì áo quần rách rưới, ruồi đậu quanh mép, còn Bù Khú thì toát mồ hôi. Không ai có súng cả. Dường như đó là một sự căng thẳng giả tạo. Cũng có thể đó chỉ là một sự ngạc nhiên kéo dài.

Ka Anh nói một câu gì đó bằng tiếng dân tộc.

Ngay tức khắc đám trẻ con chạy ùa đến vây lấy Bù Khú. Tiên sinh ngồi thụp xuống, mở cái bao vải ra. Ông nghèo quá, nên quà không có gì ngoài những bao xì-nách.

Mấy con gà mái không biết từ đâu cũng chạy đến. Năm ba con chó vàng và heo mọi ốm nhách.

Dưới gầm ngôi nhà sàn thường là để nhốt trâu bò nhưng dường như đã lâu lắm người ta không dùng đến cái khoảng trống đó. Mặt đất trong chuồng nham nhở. Không có cỏ, cũng không có rơm khô. Cả phân bò cũng không có. Sự sống đang tàn lụi, đang co rúm lại, quắt queo như một trái cây chưa kịp chín đã khô héo.

Ngôi nhà sàn này khá dài và có một cầu thang đi lên. Tỏa ra hai bên là những khoảng trống u ám của những vách lá mục nát đen nhẻm bị hun khói hàng chục năm bởi những bếp lửa phân chia từng gia đình một.

Bếp lửa cũng đã tắt ngấm. Đặt bàn tay lên tro than thấy lạnh tanh. Những que củi cháy dở nằm ngổn ngang như xác chết nám đen trên chiến địa.

Nhìn lên mái thấy hàng trăm cái lỗ thủng. Thấy có đám mây dửng dưng bay ngang qua. Thấy gió phe phẩy những lá mục. Vách ngăn giữa các gia đình làm bằng bao bố kết lại. Cũng đã tả tơi.

Nhưng đây không phải là cái nhà sàn bỏ hoang. Vẫn có mấy bộ quần áo treo trên vách. Mấy cái bầu khô. Xà-gạt và gùi. Những cư dân này đang ở trong rừng. Họ không có chè để hái, không có cà phê để hái, không có bắp để hái. Họ hái củi. Bó từng bó lớn, mang trên vai, gùi trên lưng. Đi bộ mấy chục cây số. Hai bàn chân bè ra. Nứt nẻ. Chai cứng. Băng rừng ra đến chợ. Kiếm được hạt gạo sao mà khốn cùng vậy!

*

Bù Khú lại chở Ka Anh xuống cái dốc sâu để trở về thung lũng cỏ may của mình. Chiếc xe máy cũ kỹ giấu trong bụi rậm được lôi ra, và Bù Khú lại bắt đầu cuộc vật lộn với cỗ máy han rỉ, ồn ào đó.

Con đường đất đỏ tung bụi mù giữa trưa nắng, gầm gừ chống trả con ngựa già rổn rảng bằng những cú xóc ương ngạnh, phũ phàng. Cuối cùng Bù Khú tìm thấy một lối mòn lẩn khuất giữa đám bắp và rẽ vào đó. Họ đi một lúc đã nghe thấy tiếng suối chảy. Bù Khú cho xe ra khỏi đám bắp, vòng qua một vườn chè và dừng lại ngôi nhà tôn lụp xụp của người thợ rừng.

Họ trả chiếc xe máy. Lúc trở ra, họ nghe phía dưới thung lũng có tiếng con nít la lối. Hình như đoàn văn công ở tỉnh về.

Hai người đến gần, mới biết là có bốn người Fulro bị bắt, đem từ trong rừng về. Một đàn ông bị xích chân vào gốc mít, một đàn bà và hai đứa con nít. Bọn họ và mấy người dân quân xã ngồi nghỉ mệt dưới bóng cây.

Người đàn ông rất cao lớn, ngồi cúi mặt, bà vợ ông ta thì ốm yếu và thất thần. Chỉ có hai đứa con nít thì lanh chanh như hai con khỉ nhỏ. Chúng đứng nhăn răng cười, chỉ tay vô bụng. Có người đưa cho chúng mấy viên kẹo, chúng đưa lên mũi ngửi, xé viên kẹo ra nếm rồi nhăn mặt vứt đi. Người nọ lại đưa một ổ bánh mì. Một đứa chụp lấy, nhảy tót lên cành cây, đu mấy cái đã ở tít trên ngọn mít. Đứa còn lại phóng theo, chuyền cành nhanh như vượn, tiếng kêu “khẹt khẹt” phát ra từ cổ họng chúng. Hai đứa đuổi nhau trên ngọn cây, giành ổ bánh mì. Cuối cùng đứa nhỏ thua. Nó ngồi trên cành cây, nhìn đứa lớn gặm ổ bánh, rồi chợt nó bẻ một cành mít nhỏ đưa lên miệng, gặm lớp vỏ cây, ăn ngấu nghiến.

Ka Anh rẽ đám đông, thò đầu vô xem. Tức thì chạm phải một khuôn mặt râu tóc dài như người rừng. Và một đôi mắt buồn, khắc khoải. Đó là đôi mắt đã từng theo dõi cô trong rừng, phía sau, phía trước, trên ngọn cây…bất kể ngày đêm, bất kể mưa nắng. Đôi mắt ấy đang nhìn cô trân trối. Một đôi mắt đẹp. Một cái nhìn tuyệt vọng.

Cô thảng thốt bỏ đi. Bù Khú hỏi:

-Sao mặt em tái mét vậy?

Ka Anh đứng tựa vào gốc mít. Im lặng một lúc, rồi hỏi:

-Fulro là gì?

-Đó là “Mặt Trận thống nhất đấu tranh của các sắc tộc bị áp bức” do người Pháp thành lập trước đây. Đã lâu lắm.

-Nhưng nó là tiếng gì vậy? Không phải tiếng của người Mạ.

-Nó viết tắt từ tiếng Pháp: Front Uni de Lutte des Races Opprimées. Nhưng em hỏi để làm gì? Sao em có vẻ xúc động quá vậy?

-Vì em quen với người đàn ông đó. Ông ta là kẻ đã từng âm thầm theo bảo vệ em trong rừng.

-Anh nhớ ra rồi.

-Bù Khú à! Em không biết cái Mặt Trận ấy tốt hay xấu nhưng em tội nghiệp cho anh ta quá, anh có cách gì cứu họ không?

-Không. Đó là chuyện chính trị, rất phức tạp.

Ka Anh thở dài. Bù Khú đưa cô ra khỏi đám đông. Đi được một đoạn thì Bù Khú dừng lại.

-Ka Anh này, hay là em hỏi xem anh ta có cần thuốc Tây không?

-Em cũng có ý định đó.

Hai người quay lại chỗ cũ, đến sát gốc mít. Người Fulro nọ tuy bị xích chân nhưng hai tay vẫn tự do. Anh ta có vẻ ngạc nhiên khi thấy Ka Anh quay lại. Ka Anh hỏi bằng tiếng dân tộc:

-Chào anh, anh có cần gì không?

-Cô có thể giúp tôi được gì?

-Thuốc Tây chẳng hạn. Hay là thức ăn?

Anh ta nhìn sang Bù Khú. Ông đón nhận cái nhìn ấy một cách chân tình. Bù Khú nhờ Ka Anh thông dịch, ông nói:

-Cái xích sắt làm chân anh chảy máu. Anh cần băng bó và cần thuốc kháng sinh.

Ka Anh không biết dịch từ “thuốc kháng sinh” vì cô không hiểu nghĩa tiếng Việt của nó. Bù Khú cũng chẳng biết làm sao để diễn tả, ông buộc miệng nói:

-Antibiotique?

-Oui, j’en ai besoin.

-Excellent! Vous parlez Français?

-Bien sûr.

-Avez-vous besoin de nourriture? Je peux vous chercher de quoi manger.

-S’il vous plaît.

-J’ai entendu dire que vous êtes un partisan de Fulro. N’est-ce pas?

-Pas moi, mais mon père.

-Alors, pourquoi on vous a arrêté?

-On a trouvé quelques vieux fusils dans la forêt au près de ma caverne. Je crois que ce sont des fusils de mon père.

(-Thuốc kháng sinh?Vâng, tôi đang cần nó.Tuyệt quá! Anh biết nói tiếng Pháp? -Tất nhiên -Anh cần thực phẩm không? Tôi có thể tìm một cái gì đó cho anh ăn.Làm ơn -Tôi nghe nói anh là thành viên của Fulro phải không? -Không phải tôi, mà là cha tôi. -Vậy tại sao người ta bắt anh? -Người ta đã tìm thấy mấy cây súng cũ trong rừng, cạnh cái hang tôi đang ở. Tôi nghĩ rằng đó là súng của cha tôi.)

Người lính gác vừa phát hiện cuộc nói chuyện bất thường giữa hai người đàn ông, anh ta xách súng bước lại, hỏi:

-Nói gì đó?

Bù Khú:

-Anh ta kêu đau chân. Anh có thể băng bó vết thương cho anh ta được không? Và đừng xích chân nữa. Tôi nghĩ nên thay bằng một cái còng tay. Còng số 8.

-Đó không phải chuyện của các người. Đi đi! Đi chỗ khác!

Anh ta dùng báng súng đẩy lưng Bù Khú và Ka Anh ra khỏi đám đông. Ka Anh lấy tờ bạc năm chục ngàn vò thành một cục rồi ném dưới chân người Fulro trước khi bỏ đi.

Khi ra khỏi đám đông Ka Anh hỏi:

-Anh nói chuyện gì với anh ta vậy?

Bù Khú thuật lại nội dung câu chuyện.

Ka Anh nói:

-Em tiếc là đã không giúp được gì cho anh ấy.

-Đành vậy. Mình không làm được gì trước họng súng đâu.

Hai người băng qua đám mì để đến dòng suối, chỗ có cây cầu gỗ.

 

19Bù Khú không có đồng hồ nên không biết mấy giờ, nhưng trời có vẻ đã khuya lắm. Ka Anh đang ngủ say. Than hồng trong bếp tuy được phủ một lớp tro mỏng nhưng vẫn ửng lên những đóm sáng. Ông ngồi tựa lưng vô khung cửa, nhìn xuống bãi cỏ trước nhà. Ánh trăng non rải một vùng sáng bạc mơ hồ tận những lùm cây đen. Trong vùng sáng hư ảo ấy ông nhìn thấy đốm mắt của những con thú nhỏ đi ăn đêm.

Ông uống hết chai rượu và lấy chai khác. Trong cơn say, ông thấy mình nhẹ tênh, thân xác như hư vô, như gió bụi. Tâm hồn ông rỗng không, đang tan biến, đang hòa nhập vào bóng tối.

Trong cái im lặng của đêm, ông nghe như có tiếng gọi mơ hồ của một người con gái, tiếng gọi ấy phát ra từ hướng ngọn đồi cỏ, nơi Đào đang yên nghỉ. Trước đây thỉnh thoảng trong những mùa trăng ông vẫn nghe tiếng gọi ấy, nhưng chưa bao giờ nó được truyền dẫn một cách bí nhiệm như lúc này.

Bù Khú cầm chai rượu bước ra ngoài, xuống cầu thang, đi lẩn vào đám cỏ may như một kẻ mộng du.

Ông đi mải miết trong bóng đêm, qua những đồi chè, những nương rẫy…

Chợt ông nghe tiếng súng nổ và tiếng những bước chân. Bù Khú ngồi thụp xuống, chui vào một hốc đá. Bất ngờ một đàn dơi từ đó túa ra như cơn lốc xoáy, kèm theo một rừng tiếng động hỗn loạn. Bù Khú ngã chúi xuống đất, chạm phải cái lưng của một người đang nằm sấp.

Bên ngoài hốc đá là một đám người nhốn nháo, hỗn loạn, đang xô đẩy nhau vì bị đàn dơi tấn công bất ngờ. Bọn họ cũng nằm rạp xuống, cong người lại, hai tay ôm đầu.

Bên trong, Bù Khú lăn ra khỏi cái xác. Ông dùng ngón tay đè lên động mạch cổ, thấy nó còn đập yếu ớt. Ông lật ngửa người ấy ra, sờ lên khuôn mặt đầy râu của gã, thấy còn chút hơi ấm.

Chòm râu quai nón của gã làm ông nhớ đến một người ông đã từng gặp. Ông hỏi:

-Fulro?

-Oui, c’est moi. Je viens d’ échapper de la prison mais ils m’ont poursuivi jusqu’ici. Je suis blessé par un coup de fusil.

-Où est votre blessure?

-À l’ épaule gauche. J’ai besoin de bandage hémostatique.

(-Fulro phải không?Vâng, tôi đây. Tôi vừa vượt ngục nhưng bị bọn họ đuổi theo đến đây. Họ bắn tôi bị thươngAnh bị thương ở đâu? -Ở vai trái, tôi cần cầm máu)

Bù Khú cởi áo ra cột vết thương cho anh ta nhưng máu vẫn chảy. Cổ họng anh ta khò khè, dường như muốn nói gì đó nhưng không thành tiếng. Bù Khú nói:

-Il faut sortir d’ici pour les premiers soins.

(-Phải rời khỏi đây để sơ cứu)

Ông ngồi dậy, vạch lá nhìn ra bên ngoài. Dưới ánh trăng mờ đục chỉ còn những đám sương mù. Đàn dơi đã biến mất. Những người lính cũng biến mất.

Bù Khú dìu người đàn ông bước ra khỏi hốc đá và ngạc nhiên thấy mình đang ở rất gần ngọn đồi nơi có nấm mồ của Đào.

Người đàn ông bước không nổi, thở hắt ra từng hồi, máu chảy ra hai lỗ mũi. Bù Khú bước loạng choạng lên dốc.

Cạnh nấm mồ của Đào có một cái cây lớn, Bù Khú định sẽ đến đó, đặt anh ta nằm xuống rồi đi mượn chiếc xe máy chở anh ta về nhà. Nhưng khi ông vừa đến chỗ gốc cây thì súng nổ.

Những loạt súng khô và lạnh được bắn ra từ những lùm cây.

Bù Khú quỵ xuống. Người Fulro thì ngã ngửa  trên cỏ, bất động. Bù Khú không biết mình bị thương ở đâu. Cơn đau cũng rất mơ hồ. Nhưng ông cảm thấy mình đang rơi vào một cơn mê sảng. Ông nghĩ rằng sẽ có nhiều tiếng chân người chạy đến nhưng chung quanh rất im lặng.

Dường như bình minh đang đến mặc dù sương mù vẫn còn. Bù Khú cảm thấy mình đang trôi vào một cõi nào đó, mơ hồ và đầy những ảo ảnh. Ông đang lạc vào một vùng đất xa lạ, một chốn nào đó rất tinh khiết, rất tĩnh lặng, không có âm thanh, không có mặt trời, không có cả loài người và muông thú. Đó là vùng đất của hoài niệm, của mong manh, lung linh…

Nấm đất bên cạnh ông cũng lung linh, được kết bằng một thứ cỏ dại, như mây, như khói. Mây giăng như áo lụa vẫy cánh trên khoảng trời rộng. Rừng như tạc vào sương mù, bồng bềnh những bóng lá sẫm màu. Ông đặt tay lên nấm mộ và cảm thấy sự mềm mại của vùng bụng phẳng của cô gái trẻ. Lỗ rún sâu, như cái lúm đồng tiền hồn nhiên, thanh bình trong đêm trăng nơi chiếc võng treo trong khu vườn nhỏ. Đó là Đào. Vùng bụng phẳng như một bình nguyên hạnh phúc. Ngày ấy, ông vẫn thường áp mặt mình lên vùng bụng đó và đặt môi mình lên cái rún đó. Ông đã thấy mình trẻ lại. Và qua lỗ rún, người con gái đã truyền sức trẻ của mình vào trái tim đã mệt mỏi của ông. Ông đã sống mạnh mẽ qua những thử thách đau khổ, cay đắng của trần gian.

Ông đã từng đến đây, ngày và đêm, nhưng chưa lần nào ông lạc vào một cảnh giới mộng mị như hôm nay.

Đào ơi, chúng ta từ cõi nào đã hiện ra trên thế gian này, đã gặp nhau và yêu nhau như những đứa trẻ. Khi yêu con, chú đã vứt cái tuổi già của chú vào bãi rác, vứt xuống sông cho thủy triều đem ra biển. Chú đã thoát ra khỏi dây trói của thời gian và con đã đứng trong vầng sáng trẻ trung, níu lấy cánh tay của chú, lôi chú ra khỏi sự ngu ngốc của tuổi tác, sự bần tiện của lão hóa, đạp trên quy luật của trời chỉ để đến được khu vườn nghèo nàn nơi cái am nhỏ bên bến sông, chỉ để đến được buổi sáng lạnh lẽo hôm nay.

Ước gì chú có thể được gặp con lần nữa.

Đào ơi!

*

Khi mặt trời đã lên cao thì Ka Anh đến. Hoa Mười Giờ đang nở đỏ rực trên nấm mồ của Đào. Cô nhìn thấy giọt nước mắt của gã si tình già. Bù Khú nằm nhắm mắt, hai bàn tay gầy đặt trên những ngọn cỏ.

Ka Anh gọi:

-Bố già! Bố già dễ thương của em.

Nhưng Bù Khú đã bất động. Cô ngồi xuống nhìn sát mặt ông, thấy nó như tượng gỗ. Nó lạnh ngắt. Cô áp tai lên ngực ông. Nó đông cứng. Và máu đã khô đặc lại.

Rồi cô phát hiện đàng kia có một người đang nằm co quắp. Đó là một hình bóng quen thuộc nhưng giờ đã biến thành một gốc cây, một hòn đá.

Ka Anh ôm Bù Khú vào lòng như một người mẹ. Cô áp mặt mình vào mái tóc lốm đốm bạc của ông và ru ông bằng những giọt nước mắt im lặng.

ĐÀO HIẾU

(Tháng 12 năm 2011)

Advertisements

2 comments on “BÙ KHÚ TIÊN SINH – tiếp theo và hết

  1. Đây gần như là hình ảnh văn học của chính tác giả. Sự kiện ít nhiều có khác, nhưng tư tưởng của Bù Khú chính là của Đào Hiếu vậy. Một cuộc đời đẹp.

  2. Đào Hiếu- một cuộc đời đẹp- một Con người ĐẸP

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s