Lạc Đường 06 – TỪ NHÀ TÙ ĐẾN TRẠI TẬP TRUNG

06Bọn thanh niên bất phục tùng là một đám ô hợp, hỗn tạp như đất đá, như đống xà bần bẩn thỉu, vứt bừa bãi trong xó xỉnh ẩm mốc, u ám.

Sau một đêm trần truồng, nằm ngồi ngổn ngang, ngủ gà ngủ gật trong những phòng giam chật hẹp nhơm nhớp mồ hôi, nồng nặc hơi người, phân người, nước tiểu… bầy tù được thả ra sân cho hít khí trời, cho ăn uống, cho tiếp tục làm các thủ tục, giấy tờ để xếp loại, hỏi cung, để bạt tai, đá đít, để mắng mỏ, chửi thề…

Bọn cán bộ tên nào cũng cầm một cuốn sổ, mỗi tên phụ trách một nhóm. Chúng đếm đi đếm lại, ghi chép, cộng trừ, la hét, đánh đập những kẻ ngồi không ngay hàng, rồi lại ghi chép, chỉ chỏ. Xong việc cho giải tán. Lúc đó cửa cổng chính mở ra một bên. Những người đàn bà bán hàng rong quảy gánh chạy vô trại.

-Cháo dô! Cháo dô!

Tiếng kêu ấy dấy lên, truyền đi như tiếng vang giữa hang đá.

Loài người quây quần, cắm cúi, xương xẩu và trần trụi. Không còn lại gì ngoài những cái miệng lớn húp chùn chụt thứ nước xúp cay xè tiêu và ớt, nước mắt nước mũi chảy ròng ròng.

Tôi bị nhốt ở đó mười hai ngày, làm quen với một ông thợ mộc man khai lý lịch, một tay du đãng nguyên là lính biệt kích Mỹ. Hắn và tôi đã vạch một kế hoạch trốn trại, theo đó thì vào lúc 5 giờ sáng, điện tắt, bọn tôi sẽ leo lên mái nhà nhảy qua hàng rào thứ nhất. Chúng tôi sẽ lấy bao cát ở đó chất lên các đầu cọc của hàng rào thứ hai rồi phóng ra đám mía phía ngoài.

Cuộc đào thoát ấy bị thất bại vì một biến cố bất ngờ. Ngay lúc chúng tôi chuẩn bị đặt bao cát lên  những đầu cọc thì đồn quân cảnh kế bên nhà lao bị VC pháo kích. Tên lính gác lô cốt quay lại. Cả ba anh em chúng tôi đều bị bắt nhốt trong phòng tối một tuần lễ.

Mấy ngày sau đó phòng giam nhận thêm bảy người: năm dân chài, một giáo sư tư thục và một nhà sư.

Nhà sư đó chính là Dã Nhân.

Anh mặc chiếc áo nâu già bạc màu, đầu nhẵn bóng in nhiều vết cháy của trầm hương, chân đi guốc mộc. Chúng tôi đều ngỡ ngàng trước cuộc gặp mặt này.

Nhà sư thì khó có thể tưởng tượng được rằng một “nhà cách mạng vĩ đại” như tôi bây giờ phải nằm trong trại lính. Còn tôi thì cứ ngỡ rằng bạn mình đã tu thành chánh quả.

Chúng tôi kéo nhau ra ngồi ở góc tường sau trại giam.

-Sao lại ra nông nỗi này? Dã Nhân hỏi.

-Xuống đường chống Mỹ bị tù. Giấy hoãn dịch hết hạn. Bị tống vô đây.

-Còn tôi, mẹ tôi bán bốn con heo một trăm ngàn để mua một tờ giấy hoãn dịch tu sĩ. Không ngờ đó là giấy giả.

Khi ôn lại chuyện cũ, Dã Nhân hỏi:

-Thầy Long bây giờ ở đâu?

-Chết rồi!

-Sao nghe nói đi vô rừng?

-Bị bom B52. Chết ở chiến trường miền Đông Nam bộ, tháng 10 năm 1968.

Chúng tôi sống lại những ngày biểu tình rầm rộ ở Quy Nhơn. Vụ đánh sập lầu Việt Cường và sau đó là trận xạ kích tàn khốc của máy bay Mỹ trên đầm Thị Nại, giết chết hàng trăm ngư dân, trong đó có ba của Dã Nhân.

Giờ đây, nhìn lại mình, chúng tôi chỉ là những tên phạm nhân ốm nhom, đen đủi, rách rưới, thảm hại.

Cái nỗi buồn mênh mông ấy tràn đến khi tôi tình cờ đi ngang qua một chiếc xe du lịch đậu trong sân trại giam, soi mặt mình trong tấm kính chiếu hậu. Đó là một bộ mặt quắt lại, mắt trũng xuống, tóc húi cao gần như trọc. Đó là bộ mặt của một đứa trẻ mồ côi đi ăn xin ở đầu đường xó chợ. Dã nhân cũng thế, trên gương mặt anh không còn nét ung dung tự tại của vị tì kheo ngồi thiền giữa hoàng hôn và thấy mình hóa thân thành con hạc bay qua rừng trúc.

Người nào cũng đờ đẫn, thất thần, mệt mỏi.

Rồi tất cả choàng dậy sau hồi còi dài, mắt đỏ ngầu, nhễ nhại mồ hôi. Tất cả tập họp điểm danh và lãnh phần ăn chiều.

Một tuần sau, anh em chúng tôi bị chất lên một chiếc xe GMC có lính vũ trang áp tải đưa đến Trung tâm Nhập ngũ. Trong chuyến đi ấy có một người chạy thoát nên số còn lại bị quật báng súng tới tấp vào đầu và bị buộc phải cúi rạp xuống sàn xe như bầy súc vật.

Xế chiều, chúng tôi đến Trung tâm Nhập ngũ.

Thực chất đó là một trại tập trung.

*

Đám “thanh niên bất phục tùng”  lủi thủi đi như những tên ăn mày. Dường như không ai nói một lời nào cho đến khi ngửa tay lãnh chiếc chiếu nylon màu chàm và nối đuôi nhau trở về khu dành riêng cho bọn họ.

Lớp “đàn anh” đã được gởi đi các quân trường, số còn lại là những người tật nguyền đau ốm.

Những người mới đến, mệt mỏi đi tìm chỗ nằm rồi ngủ thiếp đi trong cơn choáng váng vì đoạn đường dài mà họ đã vượt qua.

Tên du đãng nằm ngoẻo cổ, cái đầu trọc lóc nhô ra khỏi cánh tay trần xăm đầy hình nham nhở. Tât cả đều bất động như khúc cây, như cục đá lăn lóc, vô giá trị và tàn nhẫn.

Dã Nhân thì lọt thõm trong bộ quân phục rộng thùng thình và nhàu nát. Trước đây tôi đã quen nhìn Dã Nhân trong chiếc áo tu sĩ màu nâu già, đầu cạo nhẵn bóng, bây giờ tự nhiên từ trong cái đống vải màu xanh cứt ngựa kia bỗng nhô ra một cái đầu, tóc lởm chởm không có đường ngôi, không có hàng lối. Mặt anh nghiêng qua một bên, trông như cụt lại và xám đen. Có lúc tôi cảm thấy Dã Nhân đã biến mất, thay vào đó là một thằng người nào xa lạ vô danh. Dường như Dã Nhân đã bị đem đi đâu rồi và người ta đã tráo vào đó một kẻ khác. Dường như mụ phù thủy đã đến từ chặp tối và biến nhà tu thành một con vượn nhỏ giữa lúc anh đang ngủ.

Tôi mở mắt thao láo, nhìn đăm đăm vào những con người đang lăn lóc chung quanh mà không để ý đến người nằm cạnh mình. Nãy giờ ông ta trùm mền kín mít, bây giờ đột nhiên run rẩy mạnh đến nỗi chiếc mền sắp tuột ra khỏi giường. Dường như ông ta không đủ sức kéo chiếc mền lại, nó đã rớt xuống đất một nửa. Tôi ngồi bật dậy, định giúp ông, nhưng bắt gặp một đôi mắt trợn trừng. Đầu của ông lắc lư liên hồi, hai môi khô cứng, mở hoác ra, méo xệch. Hàm răng dưới lởm chởm, đôi gò má nhô lên khỏi hai con mắt sâu hoắm, trắng dã, trợn trừng. Đôi tay chới với, run bần bật vươn tới trước trong một dáng điệu cố gắng khốc liệt và tuyệt vọng.

-Bác, sao vậy bác?

Nhưng ông ta vẫn cứ chới với hai tay, thở hổn hển đứt đoạn, tưởng chừng như sắp chết ngạt. Một lúc, ngón tay ông duỗi ra được, chỉ về phía cái bi đông nước.

Tôi mở nắp bi-đông, định cho ông uống, nhưng vừa mới đưa cái bi-đông ra trước mặt thì, bằng hết sức bình sinh, ông ta vồ lấy, trút xối xả xuống mặt mũi. Cái miệng há ra, đói khát. Nước xối tràn ra mặt mũi, ngập cả đôi mắt trắng dã trợn trừng. Mặc kệ, ông vẫn nuốt ừng ực, cuống quýt, khốn khổ. Lát sau, chiếc bi-đông rời khỏi tay, rơi xuống đất, hai cánh tay cũng rớt xuống chiếu. Ông nằm ngoẻo cổ. Kiệt sức. Đôi mắt nhắm lại và hơi thở dường như đã biến mất.

Tôi đứng sững, lát sau mới cúi xuống nhặt chiếc mền lên, đắp lại cho người đàn ông khốn khổ.

*

Một tuần sau tôi bị điều đi làm việc ở nhà bếp.

Xếp sòng ở đây là một anh hạ sĩ răng vàng. Thấy chúng tôi bước vô, hắn hỏi:

-Mấy đứa?

-Tám đứa.

Hắn ra lệnh:

-Thằng nào biết chữ thì ghi tên tất cả lại cho tao rồi ở luôn trong này mà nấu nướng dọn dẹp, hễ tao hứng lên là tao điểm danh, sót đứa nào là tao cho bò.

Tôi làm theo lời gã. Xong việc, gã phát cho mỗi người một cái xẻng:

-Một đứa lên bếp xúc cơm đổ vô cà mèng, một đứa đem cà-mèng cơm lại đàng kia chồng lên cà-mèng canh rồi xếp lại ngay ngắn.

Bọn thanh niên tuân lệnh răm rắp. Hạ sĩ răng vàng day sang tôi và Dã Nhân:

-Hai thằng này đi nấu nước trà. Củi ở bên hàng rào, cây nào ở trên chụm trước, lấy lộn xộn cũng bò luôn.

Dã Nhân đứng tần ngần bên bể nước, giống hệt chàng Sạc-lô, nhìn mệt mỏi xuống những thúng gạo lớn. Bắp cải, dưa chuột lăn lóc dưới chân.

Tôi nhảy lên thành bể nước, kéo cái thùng sắt.

-Phụ một tay, tôi nói.

Dã Nhân đỡ thùng nước xuống để dưới chân nhưng không chuyển đi. Anh móc trong túi ra một cái chai nhỏ, đưa cho tôi. Chai đựng một thứ nước trắng đục như sữa. Tôi mở nắp ngửi, thấy mùi hăng hăng

-Mủ xương rồng? Tôi hỏi.

Dã Nhân đưa mắt ngó hạ sĩ răng vàng, gật đầu. Tôi lại hỏi:

-Ông định làm chuyện đó?

-Coi như bỏ một con mắt

-Tại sao không chặt ngón tay trỏ?

Dã Nhân cười, cái môi thâm mở ra, buồn tênh.

-Tao nghĩ kỹ rồi. Bỏ con bên trái.

Cái giọng lạnh lùng ấy của Dã Nhân, tôi chưa nghe lần nào. Nó làm tôi sợ. Và tôi càng sợ hơn khi nhìn thấy cái bóng của bạn mình méo mó dưới đáy bể nước chao động, không còn ra hình dáng con người.

*

Mưa giông dữ dội. Đêm nào tôi cũng chui xuống hầm trốn pháo kích mà ngủ. Hầm được xây bằng những thùng phuy chứa đầy cát, phía trên nóc lợp vỉ sắt và đổ cát thật dày. Nước mưa đọng trong cát, rịn xuống, nhỏ giọt trên mặt đất. Bọn tôi trải chiếu nằm kế nhau.

Tên du đãng thắp ngọn đèn cầy cắm trên cục gạch. Nó tựa lưng vô vách hầm, rụt cổ xuống, im lặng hút thuốc. Trong ánh sáng leo lét của ngọn đèn cầy, nó trông giống một nhà sư khất thực.

Dã Nhân mơ ngủ nói ú ớ trong xó tối. Anh nằm lim dim, hai cái chân khẳng khiu cong lại, co ro, xương bánh chè nhô lên khỏi đầu gối, thân thể lép xẹp như con cá khô, như một người Phi châu chết đói giữa sa mạc.

Một hồi còi chợt rúc lên. Dã Nhân mở mắt ra, hỏi:

-Cái gì vậy?

Người du đãng đáp:

-Còi thổi tập họp.

Tôi giục:

-Nhanh lên! Nó phạt bây giờ!

Nhưng hình như Dã Nhân vẫn chưa thoát khỏi cơn mơ. Mọi người đã chạy ra hết ngoài sân. Mưa vẫn rả rích. Tiếng tu húyt rúc lên. Tiếng cán bộ la hét.

Dã Nhân bước ra ngoài mưa, như kẻ mộng du.

Tên trung sĩ chặn anh lại, hỏi gay gắt:

-Làm gì bây giờ mới ra?

-Tôi ngủ quên.

Một cái tát làm Dã Nhân lảo đảo. Tên trung sĩ hét lên:

-Cởi quần dài ra! Quỳ xuống đi bằng hai đầu gối từ đây đến cầu tiêu cho tao.

Hàng trăm thanh niên bất phục tùng đứng im phăng phắc trong sân sáng choang ánh đèn.

Dã Nhân đứng thất thần như kẻ sắp bị đem đi hành quyết. Anh cởi bỏ quần dài rồi quỳ xuống nền đất đầy cát sạn.

Tên trung sĩ ra lệnh:

-Đi!

Dã Nhân lê tới. Những viên sạn bén nhọn cứa trên hai đầu gối. Anh cắn răng, cố chịu đựng. Tên trung sĩ nhảy tới, vung roi ngựa quất tới tấp lên đầu và lưng Dã Nhân. Anh trợn mắt tiến tới. Máu đầm đìa hai đầu gối, nhuộm đỏ những hòn sạn đau buốt, buộc anh phải dừng lại. Nhưng cú đạp của tên trung sĩ đã làm anh chúi mũi. Dấu chiếc giày trận trên lưng anh in rõ nét như vẽ bằng một thứ bùn đặc sệt.

Dã Nhân gượng dậy, nghiến răng tiến tới trên hai đầu gối trong nỗi uất hận điên cuồng. Khi đến cuối sân, anh đứng dậy thì thịt ở hai đầu gối đã rữa nát, máu chảy ròng ròng xuống hai ống chân.

Anh quay về, chậm rãi, nghiêm nghị, mặt ngẩng lên như chàng giác đấu vừa hạ con sư tử.

Cái nhìn bốc lửa của anh khiến tên trung sĩ rúng động. Và để trấn áp cơn sợ lạ lùng vừa ập đến, hắn hét lên:

-Cho mày nhớ đời!

Nhưng hắn không thấy bàn tay Dã Nhân đã nắm chặt lại. Đến quỷ gác cửa địa ngục cũng không dữ hơn anh lúc ấy. Cái đấm bay tới điên cuồng. Tên trung sĩ ngã ngửa. Hắn rú lên, đưa hai tay bụm mặt, máu rịn ra quanh kẽ ngón tay.

-Bắt nó! Bắt nó!

Ba bốn thằng lính chạy lại. Chúng đánh anh bằng báng súng. Giày “xô” đạp lên ngực, thúc vào ba sườn. Dã Nhân bị hất văng đi, nhủi xuống bùn, nhưng anh không kêu một tiếng.

Một cú đá nào đó đã làm vỡ môi anh, máu ứa ra đầy miệng. Anh lăn lóc giữa trận đòn thù như đoạn củi khô. Anh lờ mờ cảm thấy thân thể mình đang tan vỡ từng mảng đẫm máu.

Cuối cùng, người ta đem đến một chiếc còng sắt. Một cái lệnh ngắn và gọn được ban ra:

-Nhốt vô chuồng cọp. Một tháng!

ĐÀO hIẾU

(Mời xem tiếp kỳ 07)

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s