Bù Khú Tiên Sinh – BÙ KHÚ TIÊN SINH ĐI HỌC TRIẾT MÁC – LÊNIN

VIETLTS: Tác phẩm này đã được đăng nhiều kỳ trên website Tiền Vệ vào khoảng năm 2012. Sau một thời gian trau chuốc lại, nay tác giả xin được ra mắt độc giả trong và ngoài nước. Nhưng trước khi giới thiệu toàn văn – gồm 19 kỳ – tác giả muốn bắt chước ngành điện ảnh, giới thiệu một “TRAILER” như một hình thức quảng cáo.

*

Khóa học sẽ kéo dài trong hai tháng. Bù Khú khóa cửa phòng, ra đi.

Hai ngày cà rịch cà tang trên xe lửa, ngủ gà ngủ gật suốt đêm trên chiếc ghế dựa làm bằng những thanh gỗ sần sùi, đi đái trong một cái cầu tiêu đầy phân người nổi lềnh bềnh, rập rềnh theo nhịp xe đi lắc lư, rửa mặt và súc miệng tại một cái vòi nước rỉ sét, chảy rỉ rả như sợi chỉ… cuối cùng cũng đến được trường Tuyên huấn.

Đó là một cái vườn hoang, đầy bóng mát và đầy tiếng chim. Những cây me tây cao vút, tàn rộng, phủ bóng mát và rải đầy lá me lấm chấm vàng trên một cái sân xi măng có nhiều kẻ nứt và ổ gà.

Nơi ấy hoang sơ như một khu vườn cổ tích. Bù Khú không thấy nhà cửa, không thấy cả bóng người hay mèo chó. Chàng chỉ nghe tiếng chim từ trên những tán lá cao rải xuống theo những cơn gió. Chàng bước đi trong tĩnh lặng, hạnh phúc vì thấy mình được lạc vào chốn thần tiên này, hoàn toàn cách biệt với thế giới bề bộn bên ngoài, hoàn toàn quên đi những cãi vã tranh giành nhà ở, quên đi những tiếng động rầm rập nhức óc của con tàu xuyên Việt, quên đi cái cầu tiêu rập rềnh cứt đái…

Chàng như vừa nhảy qua vực thẳm để đến được chốn thiên đường xã hội chủ nghĩa, một vùng tiểu thiên địa huyền thoại với cây lá, tiếng chim và những ngọn gió mát.

Chàng đi lang thang như thế trong khu vườn rộng mà quên mất là mình cần phải tìm ngôi trường Tuyên huấn của mình, cho đến khi chàng gặp một gã đản ông mặt tròn quay, tay cầm một xấp bìa cứng. Ông ta hiện ra trước mũi chàng lúc nào chàng không hay, giống như lão thổ địa.

Ông Địa hỏi:

-Cậu tìm ai?

-Tôi tìm trường Tuyên huấn Trung ương.

-Đúng đây rồi.

-Nhưng sao không thấy một cái nhà nào cả?

Người đàn ông dẫn Bù Khú qua khỏi một rặng cây và chi cho chàng ngôi biệt thự hai tầng lầu rất rộng và cũ đến độ màu sơn vàng của nó đã ngả sang màu nâu của đất mùn, còn tường thì loang lổ những kẻ nứt, ở đó mọc ra những nhánh cây bồ đề con tua tủa, như cái vườn ươm treo lơ lửng giữa không trung.

Chàng thấy chúng rất ngộ nghĩnh, rất đáng yêu nên cứ đứng nhìn sững sờ. Người nọ hỏi:

-Cậu nhìn cái gì vậy?

-Có chim sẻ làm tổ trên tường đấy bác ạ.

-Cậu từ đâu đến?

-Thành phố Hồ Chí Minh. Thế cái nhà này là trường Tuyên huấn phải không đồng chí?

-Cậu đi theo tôi.

Lão Thổ địa dẫn Bù Khú vòng ra sau ngôi biệt thự, ở đó có một dãy nhà tranh vách đất lụp xụp trống giống như một trại lính.

-Trường của cậu đấy. Mới xây xong tức thì. Phòng to nhất là lớp học. Các phòng nhỏ còn lại là chỗ ở. Mỗi phòng hai đồng chí.

-Nhưng sao vắng hoe vậy?

-Vì cậu đến quá sớm. Ngày 6 người ta khai giảng, hôm nay mới ngày 3 cậu đã đến rồi. Hai ngày nữa người ta mới đến. Cậu vô nhận đại một phòng đi. Tối có chỗ mà ngủ.

Nói xong ông ta bỏ đi.

Bù Khú móc Giấy triệu tập học viên ra coi. Té ra cái thằng chó đẻ nào đó nó viết con số 6 giống hệt con số 4.

Bù khú lớ ngớ một lúc lâu. Như đứa con nít đi lạc, bị lừa lấy hết tiền bạc, túi xách, ngơ ngáo giữa xứ lạ quê người.

Tiếng chim lúc nãy mất tiêu. Các vòm cây cũng tàn héo. Lá me lá miếc vung vãi như rác trên nền đất nham nhở.

Chàng xách cái ba lô con cóc, rón rén bước gần đến cái dãy chuồng heo ấy trong tư thế phòng thủ của một kẻ đơn độc, chẳng có gì để tự vệ.

Cũng may chàng không gặp con heo nào và cũng không có mùi phân heo.

Căn phòng đầu tiên chàng bước vô có vẻ như là một lớp học vì nó rộng khoảng 60 mét vuông và có kê bốn dảy bàn làm bằng những tấm ván xẻ thô từ thân cây, chưa kịp bào cho nhẵn mặt, thậm chí có tấm còn cả lớp vỏ nham nhở với những con kiến xếp hàng đi từng đoàn.

Các cửa sổ và cửa lớn đều không có cánh, tường thì bằng đất bùn trộn rơm rạ, trét vội vàng lên những khung tre còn chưa kịp khô. Mái tranh tuy khá dày nhưng lợp vụng về, lởm chởm như lông gà xước. Nền nhà cũng bằng đất nện nhưng vì chưa có dấu chân người dẫm lên nên mỗi lần bước đi có cảm giác như đất đang mùn ra đưới đế giày.

Bù Khú thở hắt, như vừa chui ra khỏi một đường hầm ngột ngạt. Lại thở tiếp mấy cái, bắn ra một câu chửi thề, theo cùng với bãi nước bọt thúi hoắc.

-Đù má! Trường Tuyên huấn Trung ương mới vừa xây xong, sao giống trại súc vật vậy ta?

Chàng vẫn đang mê sảng. Có lẽ tối qua mình ngửi cứt đái nhiều quá trên xe lửa nên giờ này đầu óc còn mê muội chăng? Lẽ nào những cán bộ ưu tú của đất nước lại phải đi học triết học Mác – Lênin trong những cái chuồng heo như thế này sao?

Câu hỏi cứ léo nhéo bên tai ngay cả khi chàng bước ra khỏi lớp học để đi tìm một chỗ qua đêm.

Phòng ở dành cho học viên cũng mái tranh vách đất như lớp học, nhưng rộng chừng 12 mét vuông, có kê hai chiếc giường tre nhỏ trải chiếu cói. Ngoài chiếc giường ra, trong phòng không còn một vật dụng nào khác kể cả một chiếc ghế để ngồi.

Sau một lúc nằm nghỉ mệt trên cái giường tre nhỏ xíu ấy, chàng trở dậy đi loanh quanh trong sân để tìm hiểu thêm khu vực mình đang ở, thì nhìn thấy một chiếc ghế ai vứt bên bờ rào cạnh chái nhà. Đó là chiếc ghế gỗ chỉ còn ba chân nhưng Bù Khú nghĩ rằng mình có thể sửa được.

Chàng đem nó vào phòng rồi mặc quần áo đi ra phố, định kiếm một cái gì đó ăn trưa và kiếm một khúc gỗ về sửa cái chân ghế.

Chàng mua mấy cây đinh, một con dao rèn bằng tay và một cái ly uống nước bằng sành.

Khi đi ngang dãy hành lang để về phòng mình, Bù Khú nhìn thấy một người con gái đang ngồi trong căn phòng bên cạnh. Cô nàng hơi thô kệch và lùn nhưng lại có mái tóc rất đẹp. Nó đổ dài xuống lưng áo, đen nhánh như một dải lụa óng ả.

Nghe tiếng bước chân, cô nàng quay lại. Bù Khú cúi chào. Cái khuôn mặt tròn như trăng rằm ấy cũng chào lại, kèm một câu hỏi, giọng Nghệ Tĩnh:

-Đồng chí ra sớm thế?

-Tôi tính lộn ngày. Thế còn cô?

-Tôi có việc. Tôi ra Hà Nội trước anh cơ đấy.

Chàng về phòng mình. Không có ấn tượng gì về cô gái ấy. Chàng lấy cái dao sắt nặng trịch và mấy cái đinh ra, hì hục gọt đẽo đoạn gỗ kiếm được ngoài bãi rác và ghép xong cái chân ghế trong vòng một tiếng đồng hồ. Chàng ngồi thử, thấy khá vững vàng. Cái ghế này khi cần thì mình sẽ ngồi trên giường và dùng nó như cái bàn viết. Chàng nghĩ, có lẽ đây là căn phòng tiện nghi nhất trong khu “cư xá” của cái trường Tuyên huấn Trung ương này. Ít ra thì nó cũng hơn được những phòng khác một cái ghế.

Nhưng còn toa-lét?

Xung quanh không có ai khác ngoài cô nhà báo tròn quay đang ở sát vách. Bù Khú quyết định tự đi tìm cái cầu tiêu công cộng. Lạy trời nó đừng giống như cái cầu tiêu trên tàu lửa! Dẫu sao nơi đây đất rộng người thưa, đất lành chim đậu…lẽ nào… lẽ nào…

Cuối cùng, chàng đã đến, đã thấy và đã… bỏ chạy.

Vì chàng đã gặp một cái lỗ đen. Đúng ra là bốn cái hố đào sâu dưới đất, đặt bốn cái lu sành khổng lồ xuống, rồi kê hai tấm ván trên miệng lu. Không biết người ta đã phóng uế vào đấy từ đời ông tằng tổ nào (bởi vì cái trường Tuyên huấn này được mô tả là mới xây xong cách đây có mười ngày), vậy mà lu nào lu nấy đầy nhóc những phân người hôi thúi nồng nặc. Mấy cái thùng thiếc đựng tro để bên cạnh thì quá nhỏ và gần như không đủ tro để chứa, nên các vị “đại tiện khách” vừa giá đáo, chỉ cần liếc qua một phát là đã thấy hàng tỉ con giòi trắng hếu lúc nhúc trong những cái lu sành vĩ đại.

Nếu người nước ngoài mà biết được rằng ở ngay giữa thủ đô Hà Nội, tại một ngôi trường văn minh nhất nước là trường Tuyên huấn Trung ương, mà có những cái “lu sành” vô cùng độc đáo này, thì có lẽ họ sẽ không ngần ngại ghi nó vào danh sách những kỳ quan hiện đại của thế giới man rợ.

Rồi như một nhà hiền triết, Bù Khú cúi đầu đi thơ thẩn quanh sân trường trong nỗi ám ảnh khôn nguôi về những con giòi, và trong nỗi tuyệt vọng rằng mình không còn cách nào để khỏi phải cưỡi trên đầu những con quái vật tanh tưởi ấy mỗi ngày.

*

Mới hôm qua, sân trường còn vắng vẻ vậy mà sáng ngày 5/9, không biết người ở đâu túa ra sân như đàn cừu, chỉ khác là họ không có lông và sừng. Họ im lặng, tay cầm cái chén bằng nhôm có cái muổng cột dính vô chén bằng một sợi dây sắt. Bộ đồ nghề ấy làm được đủ thứ việc: múc cơm, chan canh, múc đồ ăn, đưa thức ăn vào mồm và cuối cùng là cạo đít nồi.

Đàn người đứng hai bên những dãy bàn gỗ. Im lặng chờ tiếng còi. Và còi ré lên. Những cái muỗng nhôm bắt đầu xông xáo. Chúng tung hoành bốn hướng, tranh chấp những miếng thức ăn ít ỏi. Những cái miệng cũng đóng mở lia lịa. Môi, lưỡi, răng, cổ họng. Tất cả những bộ phận ấy đều phát ra tiếng động: nhai, nuốt, húp xoàn xoạt, ừng ực, hít hà. Không ai nói chuyện. Không ai cười. Cuộc đấu tranh sinh tồn tuy âm ỉ mà quyết liệt đến nỗi đôi lúc Bù Khú bị đánh dạt ra khỏi mép bàn, phải nhai một thứ ngũ cốc vừa dẻo vừa cứng vừa có mùi ẩm mốc vừa có mùi bột sống. Đó là thứ hổ lốn gồm khoai mì ủ trộn với bo bo chưa được xát sạch vỏ.

Ở nhà ăn ra, nắng đã lên, lúc ấy trong cái sân rộng đầy lá, mới nghe tiếng của loài người lao xao, rầm rì. Vài tiếng cười. Vài tiếng khạc nhổ. Vài tiếng ho khúc khắc. Gió sớm lạnh và khô.

Bù Khú thấy nặng bụng. Anh đi tản bộ quanh sân một lúc thì nghe trong hội trường có tiếng hát:

“Kết đoàn chúng ta là sức mạnh

Kết đoàn chúng ta là thép gan…”

Rồi có tiếng ai đó gọi tên anh bảo vô hội trường. Bù Khú bước nhanh tới. Ảnh Bác Hồ, cờ búa liềm và cờ đỏ sao vàng treo trên tường. Mọi người đều ngồi ghế. Người ta phổ biến nội quy và thời khóa biểu khóa học.

Giảng viên ngoài bốn mươi, đầu hói, đứng sau cái bục gỗ. Ông ta tươi cười, giọng nói trầm ấm, dứt khoát. Ông ta nói không cần giấy, chỉ có một chiếc micro và một ly bia. Uống bia. Cười khà khà. Trán bóng lưỡng. Đó là khuôn mặt của hạnh phúc, tự tin và chiến thắng.

-Thưa các đồng chí, chúng ta đang làm một cuộc cách mạng lớn, một cuộc lột xác vĩ đại. Chúng ta đang xây dựng Chủ nghĩa Xã hội, (uống bia). Hiện nay chúng ta đang gặp những khó khăn do chiến tranh để lại, nhưng khi đánh thắng đế quốc Mỹ chúng ta đã đi được ba phần tư đoạn đường (uống bia). Chúng ta sẽ xây dựng một xã hội văn minh hiện đại theo kiểu mới. Lúc đó mọi người sẽ làm theo năng lực và hưởng theo nhu cầu. Sẽ không còn chợ búa, không có người bán và người mua. Và tất nhiên là không cần tiền tệ nữa (cười khà khà và nốc cạn ly bia. Lập tức từ dưới đáy cốc, bia dâng lên đầy ly, nổi bọt trắng xóa.)

Trong hội trường vang lên những tiếng nuốt nước bọt ục ục như gà kêu. Bù Khú nhìn cái “cục yết hầu” chạy lên chạy xuống của chàng học viên ngồi bên cạnh khi hắn ta đang cắm cúi ghi chép. Anh thấy có một chút nước bọt vừa ứa ra khỏi mép của hắn. Lúc ấy tiếng của giảng viên lại vang lên:

-Các đồng chí nhớ nhé! Không cần tiền tệ nữa! Còn vàng? Vàng thì sao? Nó cũng chẳng còn giá trị gì cả. Nó chỉ là một thứ kim loại không rỉ sét, có thể dát mỏng và người ta sẽ dùng nó để dát cầu tiêu (cười khà khà và uống bia).

Tiếng ngòi bút cạo lên mặt giấy nghe soàn soạt khắp nơi. Không nhìn thấy sự xúc động nơi học viên, cũng không ai ngạc nhiên hay thích thú. Chỉ thấy sự chăm chỉ cần mẫn và cam chịu. Bù Khú ngó sang hai bên, ngoái cổ nhìn dãy mặt người phía sau mình, thấy lờ mờ, cũ kỹ, rêu mốc. Vàng sẽ không còn giá trị gì nữa, sẽ chỉ được dùng để dát cầu tiêu. Vàng nào vậy? Một cái hố xí bằng inox lềnh bềnh những nước đái và phân người trên chuyến tàu tối hôm trước. Nó được làm bằng Inox. Inox cũng là một thứ kim loại không rỉ nhưng có màu bạc. Từ bạc chuyển sang vàng có khó gì? Chỉ trong một cái chớp mắt.

Buổi học chấm dứt với hình ảnh tráng lệ của cái cầu tiêu bằng vàng. Học viên lục tục bước ra khỏi hội trường. Bù Khú còn nán lại vì anh không thích chen lấn. Khi mọi người ra hết anh đứng dậy thì thấy ở cuối phòng có một lão già ốm nhom đang tìm cách máng cây chổi lên cái đinh trên vách.

-Bác ở tỉnh nào đến đây?

-Tôi ở đây. Tôi là nhân viên quản thủ thư viện.

-Cây chổi này của bác?

-Tôi quét sân.

-Bác có hứng thú uống với cháu một ly cà phê không?

Họ ra vỉa hè. Ở đó không có cà phê, chỉ là nước chè xanh.

-Cậu học cái gì trong đó vậy?

-Học chính trị hay triết học gì đó.

-Sao nói lơ mơ vậy?

-Vì cháu chỉ nghe chơi thôi mà. Chẳng hiểu gì cả.

*

Bù Khú đi lướt qua khung cửa sổ của cô nhà báo Tròn Quay vừa lúc cô ta đứng ngóng ra ngoài sân.

-Đồng chí này! Hình như phòng đồng chí có một cái ghế phải không?

-Phải.

-Đồng chí cho tôi mượn tạm được không. Nhà trường mới bố trí thêm hai chị nữa ở chung. Lát nữa lại có khách.

-Được thôi, cô sang lấy ghế đi. Nhưng xong thì trả cho tôi nhé.

Cô nhà báo sang lấy ghế. Hai tay cầm hai chân ghế, vừa đi vừa ngắm cái chân gãy.

Bù Khú lo, không biết cái chân ghế có chịu nổi sức nặng của cô nhà báo hay không. Nếu cô ta là người “ý tứ” thì cô sẽ dành cái ghế cho một người khách nhẹ ký hơn.

Bóng nắng đã khuất trên sân trường. Bù Khú đi lại phía chỗ ở của lão già quản thủ thư viện.

Trong ánh sáng lờ mờ lúc chạng vạng, lão thức dậy khi nghe tiếng bước chân người đi tới. Lão chỉ mở hí một mắt, xoay trở trên chiếc võng ny-lông sờn rách treo dưới gầm cầu thang. Bù Khú ngồi xuống bên cái bàn thấp kê sát võng.

-Sao bác ngủ sớm vậy?

-Tôi có ngủ đâu. Tôi chỉ bắt chước mấy con gà, ăn cơm chiều xong liền vô chuồng. Cậu xem cái gầm cầu thang này có giống chuồng gà không?

-Sao bác lại ở dưới gầm cầu thang vậy?

-Vì đây là thư viện. Cậu xem có cái phòng nào trống đâu. Với lại tôi đâu có tiêu chuẩn để ở một phòng.

-Nhưng bác ngủ võng nhiều năm sẽ sinh chứng đau lưng,

-Không đúng, tôi cả đời nằm trên võng, thời chiền tranh cũng vậy mà thời bình cũng vậy. Giống như con gà lúc chạng vạng thì nhảy lên nhánh cây.

-Nhưng sẽ bị muỗi đốt.

-Khỏi lo. Có tí máu nào đâu mà nó đốt. Bên ngoài là da cóc, bên trong là cái khung xương và tí bầy nhầy. Tôi đã nằm dưới cái gầm cầu thang này hơn hai mươi năm rồi.

Lão bước xuống võng, bật quẹt thắp ngọn đèn dầu, máng trên cái đinh ở đầu võng. Ánh sáng làm cho gầm cầu thang trông giống cái hang hơn là cái chuồng gà.

Lão lục đục pha trà, rót ra tách mời Bù Khú.

-Hôm nay cậu học cái gì?

-Chủ nghĩa Xã hội Khoa học.

-Cậu có muốn nghe tiếp về Khổng Tử không?

-Hôm trước bác nói là Khổng Tử có một mối tình?

-Đó là mối tình với hoàng hậu nước Vệ.

-Có phải là nàng Nam Tử không?

Ông già chỉ cười.

Dưới gầm cầu thang lại có thêm một cái hốc, bên ngoài treo một bức tranh vẽ trên giấy Dó. Lão già lôi ra cái máy chữ rỉ sét, để qua một bên rồi lôi tiếp một cái bọc.

-Tôi viết sắp xong rồi.

-Viết về mối tình đó sao?

Lão già ngồi lại bàn, đối diện Bù Khú. Lão nói:

-Trong sử sách không thấy ai nói về mối tình đó, chỉ có người đặt câu hỏi tại sao Khổng Tử vào yết kiến hoàng hậu Nam Tử lâu như vậy? Suốt từ sáng đến chiều. Họ đã làm gì trong căn phòng ấy?

-Vậy theo bác thì họ đã làm gì?

*

Sáng hôm sau, trên đường đến thăm lão già, Bù Khú phải ghé phòng cô nhà báo để đòi lại cái ghế. Nó vẫn còn nguyên vẹn. Cái chân gãy vẫn không hề hấn gì. Bù Khú nói:

-Tôi lấy cái ghế nhé?

-Ghế nào?

Bù Khú chỉ vào cái ghế của mình.

-Cái ghế này này. Hôm trước cô mượn tôi đó.

-Nhưng nó là ghế của tôi mà.

Bỏ mẹ! Mình bị tâm thần rồi sao hả trời! Bù Khú cố trấn tĩnh. Và khi đã chắc chắn rằng nó chính là cái ghế của mình, chàng bèn bước đến, xách lấy cái ghế. Nhưng cô nhà báo đã đứng bật dậy, chụp lấy cái ghế một cách quyết liệt.

-Đồng chí làm gì vậy. Cái ghế này của tôi. Nó ở trong phòng tôi mà.

-Nhưng chính cô đã mượn của tôi, đã đem từ phòng tôi sang đây. Cô quên rồi sao?

-Tôi không quên. Nhưng tôi là người đầu tiên đến ngôi trường này. Lúc ấy cái ghế này ở trong phòng tôi.

-Nhưng chính tôi nhặt nó nơi bãi rác ngoài rào. Nó chỉ có ba chân và tôi đã sửa lại.

Cô nhà báo nhổ toẹt ra ngoài cửa sổ.

-Thế nhé. Tôi đi ra phố đây.

Đó là cách mà một nhà báo xã hội chủ nghĩa, một cán bộ tuyên huấn ăn cướp của người khác. Một lối ăn cướp khá ấn tượng. Và đầy sáng tạo. (Hết trích)

ĐÀO HIẾU

(Mời xem kỳ 01)

Advertisements

One comment on “Bù Khú Tiên Sinh – BÙ KHÚ TIÊN SINH ĐI HỌC TRIẾT MÁC – LÊNIN

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s